vanban.org

Bản án 09/2025/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Công ty S đối với anh Lâm Thanh N1.

Buộc anh Lâm Thanh N1 giao trả khoản tiền cầm cố tài sản đã nhận gồm vốn gốc, lãi phát sinh tạm tính đến ngày 11/7/2025 là: 35.194.017 đồng (ba mươi lăm triệu một trăm chín mươi bốn nghìn không trăm mười bảy đồng) trong đó: nợ gốc là 19.000.000 đồng, lãi phát sinh trong hạn là 2.535.867 đồng, lãi ph… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng cầm cố tài sản"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Công ty S đối với anh Lâm Thanh N1.
  • Căn cứ chính? Điều 11 Bộ luật Dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 5 – AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 09/2025/DS-ST.
Ngày 11 - 7 - 2025
V/v: “Tranh chấp về hợp đồng
cầm cố tài sản, kiện đòi tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Chuyên

Các Hội thẩm nhân dân:

1.Ông Lê Văn Chi

2.Ông Trương Thanh Tuấn

- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Phượng là Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 5 - An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - An Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diễm Thúy - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 7 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5 - An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 21/2025/TLST-DS ngày 20 tháng 01 năm 2025 về việc tranh chấp “Hợp đồng cầm cố tài sản và kiện đòi tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 216a/2025/QĐXXST - DS, ngày 16 tháng 5 năm 2025.

Nguyên đơn: Công ty S; Địa chỉ: A N, phường B, thành phố V, tỉnh Nghệ An

Người đại diện theo pháp luật: Ông Kanokwatpaisal N - Chức vụ: Giám đốc.

Người đại diện theo ủy quyền: ông Lê Thanh P - Chức vụ: Nhân viên; Địa chỉ: E T, khu V, phường C, thành phố V, tỉnh Hậu Giang (có mặt).

Bị đơn: Anh Lâm Thanh N1, sinh năm: 1996; Địa chỉ: Tổ A, ấp H, xã H, huyện G, tỉnh Kiên Giang - Nay là ấp H, xã H, tỉnh An Giang (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và tại phiên Tòa, người đại diện theo uỷ quyền của Công ty S trình bày: Vào ngày 29/3/2023, anh Lâm Thanh N1 có ký hợp đồng cầm cố tài sản là 01 xe máy BS 68G1 -990.07, loại xe honda Future F1, màu xanh đen, số khung: RLHJC7641NY799, số máy JC90E0235314 với Công ty S với số tiền là 22.000.000 đồng, thời hạn cầm cố là 18 tháng, lãi suất thỏa thuận là 1,1% /tháng, từ ngày 29/3/2023 đến ngày 29/9/2024. Sau khi ký kết hợp đồng cầm cố tài sản, phía Công ty S cho anh N1 mượn lại xe để làm phương tiện đi lại, có làm giấy mượn xe. Tuy nhiên, kể từ thời điểm cầm cố tài sản đến nay, anh N1 đã trả được khoản tiền gốc của 02 kỳ là 3.000.000 đồng (ba triệu đồng) và không thực hiện đúng nghĩa vụ như thỏa thuận. Phía Công ty S liên hệ qua điện thoại cho anh N1 nhiều lần nhưng không liên lạc được và đã đến địa phương nơi cư trú của anh N1 để nhắc nhở nhưng anh N1 không còn cư trú tại địa chỉ mà anh N1 cung cấp trong hợp đồng và không thông báo cho phía Công ty được biết hiện anh N1 đi đâu, làm gì. Anh N1 đã vi phạm hợp đồng làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của Công ty S nên công ty khởi kiện yêu cầu anh N1 thanh toán số tiền gốc mà anh N1 đã cầm cố tài sản là 19.000.000 đồng, lãi trong hạn 1.929.963 đồng, phí theo dõi 877.256 đồng, phí hao mòn xe 10.560.000 đồng và lãi quá hạn 5.887.478 đồng. Tổng cộng 38.254.697 đồng (ba mươi tám triệu hai trăm năm mươi bốn nghìn sáu trăm chín mươi bảy đồng). Ngoài ra, anh N1 còn phải tiếp tục thanh toán khoản nợ lãi phát sinh sau ngày xét xử sơ thẩm (ngày 12/7/2025) theo mức lãi suất đã được các bên thỏa thuận tại hợp đồng cầm cố tài sản đã ký kết cho đến khi thanh toán xong nợ cho phía Công ty S Có Ngay.

Phía Công ty S còn yêu cầu anh N1 phải giao trả lại 01 xe máy biển số 68G1 - 990.07, loại xe hondaFuture F1, màu xanh đen, số khung: RLHJC7641NY799, số máy JC90E0235314 đã cầm cố cho Công ty và Công ty đã cho anh N1 mượn lại để làm phương tiện đi lại để phía Công ty xử lý tài sản khi anh N1 không thực hiện được nghĩa vụ trả nợ.

Tuy nhiên, tại phiên Tòa phía người đại diện của Công ty S rút lại một phần yêu cầu trên, chỉ xác định yêu cầu anh N1 trả khoản tiền cầm cố tài sản đã nhận là 19.000.000 đồng, tiền lãi trong hạn 2.535.867 đồng, lãi quá hạn 13.658.150 đồng. Tổng cộng 35.194.017 đồng (ba mươi lăm triệu một trăm chín mươi bảy nghìn không trăm mười bảy đồng). Ngoài ra, anh N1 còn phải tiếp tục trả khoản tiền lãi phát sinh sau ngày xét xử theo mức lãi suất đã được các bên thỏa thuận tại hợp đồng cầm cố tài sản đã ký kết cho đến khi thanh toán xong nợ cho phía Công ty S.

Bị đơn anh Lâm Thanh N1 không giao nộp văn bản thể hiện ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của Công ty S.

Phát biểu quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - An Giang đối với vụ án:

Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, nguyên đơn trong vụ án được thực hiện đúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự quy định. Riêng bị đơn không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình quy định tại Điều 70, Điều 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về quan điểm giải quyết vụ án:

Tại phiên Tòa, đại diện theo ủy quyền của Công ty S rút lại yêu cầu buộc anh Lâm Thành N1 phải trả lại cho Công ty S chiếc xe máy đã cầm cố 01 xe máy BS 68G1 -990.07, loại xe hondaFuture F1, màu xanh đen, số khung: RLHJC7641NY799, số máy JC90E0235314 mà phía Công ty đã cho ông N1 mượn lại để sử dụng và khoản phí hao mòn xe. Việc rút lại yêu cầu này là hoàn toàn tự nguyện không trái pháp luật đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 244 của Bộ luật tố tụng dân sự, đình chỉ xét xử đối với yêu cầu này.

Đối với yêu cầu của Công ty S với anh Lâm Thanh N1 về việc buộc trả khoản tiền gốc đã nhận từ hợp đồng cầm cố tài sản, lãi phát sinh và khoản phí quản lý hồ sơ từ hợp đồng cầm cố được các bên thỏa thuận ký kết, tổng cộng là 35.194.017 đồng tạm tính đến ngày xét xử và khoản lãi phát sinh theo hợp đồng cầm cố tài sản mà các bên đã thoả thuận ký kết sau ngày xét xử cho đến khi thanh toán hết nợ; phía anh N1 không có ý kiến phản hồi. Tuy nhiên, hợp đồng đã được các bên ký kết hợp pháp nên các bên phải thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ đã được thỏa thuận ký kết tại hợp đồng, thời điểm ký kết anh N1 đã cung cấp đúng địa chỉ cư trú nhưng hiện tại rời khỏi địa phương mà không thông báo cho phía Công ty S biết địa chỉ cư trú mới nên có căn cứ cho rằng anh N1 cố tình giấu địa chỉ. Vì vậy, căn cứ vào khoản 4 Điều 11; Điều 309, Điều 310, Điều 311, Điều 312, Điều 313, Điều 314 của Bộ luật Dân sự năm 2015, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện này của Công ty S đối với anh Lâm Thanh N1.

Về án phí: Áp dụng khoản 1 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, đề nghị buộc anh N1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về trình tự thủ tục tố tụng:

{1.1} Về thẩm quyền: Công ty S khởi kiện anh Lâm Thanh N1 buộc thực hiện nghĩa vụ trả tiền cầm cố tài sản theo hợp đồng đã ký kết nên đây là tranh chấp về hợp đồng dân sự được quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự và anh Lâm Thanh N1 có địa chỉ cư trú tại ấp H, xã H, huyện G, tỉnh Kiên Giang (nay là xã H, tỉnh An Giang) nên theo quy định tại khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 01 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 5 - An Giang.

{1.2} Về sự có mặt của đương sự: Anh Lâm Thanh N1 với tư cách là bị đơn trong vụ kiện đã được Tòa án nhân dân khu vực 5 - An Giang triệu tập hợp lệ tham gia tố tụng tại Tòa án nhưng anh N1 đã vắng mặt tại nơi cư trú. Tại thời điểm ký kết hợp đồng, anh N1 cung cấp địa chỉ cụ thể cho phía Công ty S nhưng sau khi rời khỏi địa phương, anh N1 không thông báo địa chỉ mới cho phía Công ty S biết để liên hệ nên đây được xác định là cố tình giấu địa chỉ. Do đó, Công ty S đã cung cấp đúng địa chỉ của bị đơn và Tòa án tiến hành niêm yết công khai các thủ tục tố tụng trên theo quy định của pháp luật và tiến hành đưa vụ kiện ra xét xử vắng mặt anh Lâm Thanh N1 là có căn cứ phù hợp với quy định tại Điều 227, điểm b khoản 1 Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự .

Về nội dung vụ án:

{2.1} Tại phiên Tòa, người đại diện theo ủy quyền của Công ty S rút lại một phần yêu cầu khởi kiện đối với anh Lâm Thanh N1 về việc buộc anh Lâm Thanh N1 phải trả lại cho Công ty S chiếc xe máy đã cầm cố BS 01 xe máy BS 68G1 - 990.07, loại xe honda Future F1, màu xanh đen, số khung: RLHJC7641NY799, số máy JC90E0235314 đã cho anh N1 mượn lại nếu không thanh toán được nợ để Công ty phát mãi thu hồi nợ và khoản phí hao mòn tài sản là 10.560.000 đồng, phí theo dõi 877.256 đồng. Việc rút lại yêu cầu này của Công ty S là hoàn toàn tự nguyện. Xét thấy đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ, Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 244 của Bộ luật tố tụng dân sự, đình chỉ xét xử đối với yêu cầu này của công ty.

{2.2} Xét yêu cầu khởi kiện của Công ty S về việc buộc anh Lâm Thanh N1 giao trả số tiền cầm cố tài sản đã nhận và nợ lãi phát sinh từ hợp đồng cầm cố tài sản được các bên thỏa thuận ký kết số VTM230301018NA2X, từ ngày 29/3/2023 tính đến ngày xét xử 11/7/2025 là: 35.194.017 đồng (ba mươi lăm triệu một trăm chín mươi tư nghìn không trăm mười bảy đồng) trong đó: nợ gốc là 19.000.000 đồng, lãi phát sinh trong hạn là 2.535.867 đồng, lãi phát sinh quá hạn 13.658.150 đồng. Ngoài ra, anh N1 còn phải trả cho Công ty S khoản tiền lãi phát sinh sau ngày xét xử theo mức lãi suất đã thỏa thuận tại hợp đồng số VTM230301018NA2X đã được các bên thoả thuận cho đến khi anh L Thanh N1 thanh toán xong các khoản nợ trên.

Để chứng minh cho các yêu cầu khởi kiện trên, phía Công ty S có cung cấp các tài liệu chứng cứ: Hợp đồng cầm cố số VTM230301018NA2X ký kết ngày 29/3/2023, phiếu yêu cầu đăng ký biện pháp giao dịch bảo đảm, phiếu đăng ký cầm cố xe máy, bản kê chi tiết tính lãi phải trả và đã trả. Tính đến ngày hết hạn của hợp đồng, anh N1 vi phạm nghĩa vụ đối với Công ty S. Phía Công ty S cho rằng đã thông báo nhắc nhở cho anh N1 biết qua số điện thoại của anh N1 cung cấp và yêu cầu anh N1 thực hiện đúng nghĩa vụ trả tiền cầm cố tài sản theo thoả thuận nhưng phía Công ty sau đó không liên lạc được và đến địa chỉ do anh Lâm Thanh N1 cung cấp để làm việc nhưng anh N1 không có mặt tại nơi cư trú, rời khỏi địa phương nơi cư trú mà không thông báo cho Công ty biết về nơi cư trú mới nên đối với việc vắng mặt trên của anh N1 là cố tình giấu địa chỉ. Kể từ thời điểm thụ lý vụ án đến ngày mở phiên Tòa xét xử, anh N1 không giao nộp văn bản thể hiện ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của Công ty S. Theo quy định tại khoản 2 Điều 91 của Bộ luật Tố tụng dân sự: “Đương sự phản đối yêu cầu của người khác đối với mình phải thể hiện bằng văn bản và phải thu thập, cung cấp, giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho sự phản đối đó”. Nhưng trong suốt quá trình giải quyết vụ án, anh N1 không có ý kiến phản đối nào đối với yêu cầu khởi kiện của Công ty S cũng như chứng cứ do công ty cung cấp nên xem như anh N1 mặc nhiên thừa nhận.

{2.3}Xét thấy hợp đồng cầm cố tài sản được ký kết ngày 29/3/2023 giữa các bên trên cơ sở tự nguyện thoả thuận, không vi phạm điều cấm của luật và trái đạo đức xã hội. Hình thức của hợp đồng đảm bảo đúng trình tự thủ tục do pháp luật quy định, việc thỏa thuận các điều khoản trong hợp đồng phù hợp với các quy định của pháp luật nên hợp đồng cầm cố tài sản trên được xem là hợp pháp. Theo các tài liệu chứng cứ phía Công ty S cung cấp thể hiện khoản tiền gốc mà anh N1 đã nhận 22.000.000 đồng và thanh toán được số tiền gốc của 02 kỳ với số tiền 3.000.000 đồng. Tại hợp đồng cầm cố tài sản ký kết thể hiện phương thức thanh toán lãi phát sinh nhưng phía anh N1 vi phạm nghĩa vụ sau thời điểm giải ngân Ngay yêu cầu anh N1 trả số nợ gốc và lãi tổng cộng: 35.194.017 đồng (ba mươi lăm triệu một trăm chín mươi tư nghìn không trăm mười bảy đồng) là có căn cứ phù hợp với quy định tại khoản 4 Điều 11; Điều 309, Điều 310, Điều 311, Điều 312, Điều 313, Điều 314 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ, Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện trên của Công ty S đối với anh N1.

Ngoài ra, kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, anh N1 còn phải tiếp tục trả khoản tiền lãi phát sinh theo mức lãi suất nợ quá hạn đã được các bên thỏa thuận tại hợp đồng cầm cố tài sản số VTM230301018NA2X ký kết ngày 29/3/2023

Về án phí; Áp dụng khoản 1 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự, khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Do yêu cầu của Công ty S được chấp nhận nên buộc anh Lâm Thanh N1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là:

35.194.017 đồng x 5% = 1.759.700 đồng (một triệu bảy trăm năm mươi chín nghìn bảy trăm đồng).

H lại cho Công ty S tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 980.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0009146 ngày 15/01/2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Giồng Riềng (nay là phòng thi hành án khu vực 5 - An Giang).

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, Điều 227, khoản 1 Điều 238, khoản 2 Điều 244, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 qui định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí.

Căn cứ vào khoản 4 Điều 11; Điều 309, Điều 310, Điều 311, Điều 312, Điều 313, Điều 314 của Bộ luật Dân sự năm 2015

1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Công ty S đối với anh Lâm Thanh N1.

Buộc anh Lâm Thanh N1 giao trả khoản tiền cầm cố tài sản đã nhận gồm vốn gốc, lãi phát sinh tạm tính đến ngày 11/7/2025 là: 35.194.017 đồng (ba mươi lăm triệu một trăm chín mươi bốn nghìn không trăm mười bảy đồng) trong đó: nợ gốc là 19.000.000 đồng, lãi phát sinh trong hạn là 2.535.867 đồng, lãi phát sinh quá hạn 13.658.150 đồng.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, anh Lâm Thanh N1 còn phải tiếp tục trả khoản lãi phát sinh theo mức lãi suất nợ quá hạn đã được các bên thỏa thuận tại Hợp đồng cầm cố tài sản VTM230301018NA2X ký kết ngày 29/3/2023.

2. Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu khởi kiện của Công ty S về việc buộc anh Lâm Thanh N1 giao lại chiếc xe máy đã cầm cố và khoản phí hao mòn tài sản là 10.560.000 đồng, phí theo dõi 877.256 đồng.

3. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Do yêu cầu của Công ty S được chấp nhận nên buộc anh Lâm Thanh N1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là:

35.194.017 đồng x 5% = 1.759.700 đồng (một triệu bảy trăm năm mươi chín nghìn bảy trăm đồng).

Hoàn lại cho Công ty S tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 980.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0009146 ngày 15/01/2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Giồng Riềng (nay là phòng thi hành án khu vực 5 - An Giang).

4. Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong hạn luật định là 15 (Mười lăm) ngày; Đương sự có mặt được tính kể từ ngày tuyên án (Ngày 11/7/2025); Đương sự vắng mặt được tính kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc án bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a, 7b, 7d và Điều 9 của Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ