vanban.org

Bản án 09/2025/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Buộc ông Hồ Văn H và bà Hồ Thị G phải trả cho Ngân hàng VP tổng nợ gốc và lãi tính đến ngày 11/6/2025 là: 301.400.135 đồng (Trong đó: Nợ gốc là 294.850.000 đồng; nợ lãi là 6.550135 đồng) theo Hợp đồng cho vay số LN2211167460291 cùng phụ lục hợp đồng và khế ước nhận nợ ký ngày 21/12/2022 giữa Ngân hà… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Vụ tranh chấp HĐTD NH - HG"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HƯỚNG HÓA
TỈNH QUẢNG TRỊ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 09/2025/DS-ST
Ngày: 11 - 6 - 2025
V/v “Tranh chấp hợp
đồng tín dụng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯỚNG HÓA, TỈNH QUẢNG TRỊ

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Huy.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hoàng Thị Lan và ông Hoàng Công Nhuận.

- Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Đức Thiện - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị tham gia phiên tòa: Ông Lê Chí Sỹ - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 6 năm 2025, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 10/2025/TLST-DS ngày 07/3/2025 về việc“Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2025/QĐXXST-DS ngày 06/5/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 05/2025/QĐST-DS ngày 22/5/2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại V; Địa chỉ trụ sở chính: Số 89 Láng Hạ, phường Láng Hạ, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội; Người đại diện theo pháp luật: Ông Ngô Chí D; Chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị; Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Hồng B; Chức vụ: Trưởng Phòng xử lý nợ Phản ứng nhanh khách hàng cá nhân – Trung tâm Thu hồi nợ KHCN (Theo Văn bản ủy quyền số 38b/2024/UQN–CTQT ngày 01/06/2024 của ông Ngô Chí D); Người đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Hồng B: Ông Lê Văn T, chức vụ: Trưởng bộ phận xử lý nợ và ông Trương Minh L, chức vụ: Chuyên viên xử lý nợ (Theo Văn bản ủy quyền số 200/2025/UQ-KHCN ngày 15/02/2025); Cùng địa chỉ: Tầng 5, số 38 Quốc lộ 9B, thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị. Ông Trương Minh L; Có mặt.

- Bị đơn: Ông Hồ Văn H, sinh năm 1990 và bà Hồ Thị G, sinh năm 1997; Cùng địa chỉ: Bản B, xã T, huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị; Vắng mặt lần thứ 02 không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, các chứng cứ có trong hồ sơ và tại phiên tòa, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Ông Hồ Văn H và bà Hồ Thị G vay vốn của VP theo Hợp đồng cho vay số LN2211167460291 cùng phụ lục hợp đồng và khế ước nhận nợ ký ngày 21/12/2022; Số tiền cho vay: 450.000.000 đồng (Bốn trăm năm mươi triệu đồng); Thời hạn duy trì hạn mức: 84 tháng, tính từ ngày Ngân hàng giải ngân số tiền vay; Mục đích sử dụng vốn: Mua 1 ô tô tải Trường Giang TG6 800-4WD/TM, sản xuất năm 2022 mới 100% phục vụ buôn bán nông sản.

- Lãi suất trong hạn:

+ Lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm giải ngân: 13.55%/năm (lãi suất được tính theo năm với một năm là 365 ngày).

+ Lãi suất cho vay trong hạn được cố định 6 tháng kể từ ngày giải ngân (Thời gian cố định). Hết thời gian cố định, lãi suất cho vay trong hạn sẽ được điều chỉnh. Ngày điều chỉnh lãi suất đầu tiên là ngày đầu tiên sau thời gian cố định, ngày điều chỉnh lãi suất tiếp theo là ngày đầu quý gần nhất tính từ ngày điều chỉnh lãi suất đầu tiên, sau đó lãi suất cho vay trong hạn được điều chỉnh định kỳ 03 tháng 01 lần vào các ngày đầu quý tiếp theo (ngày đầu quý là các ngày 01/01, 01/04, 01/07 và 01/10 hàng năm). Trường hợp ngày điều chỉnh lãi suất rơi vào ngày chủ nhật, ngày nghỉ lễ theo quy định của VP thì ngày điều chỉnh lãi suất là ngày làm việc đầu tiên liền sau ngày chủ nhật, ngày nghỉ lễ đó. Mức lãi suất điều chỉnh được xác định bằng mức lãi suất cơ sở VNĐ áp dụng đối với khoản vay có tài sản bảo đảm dành cho khách hàng cá nhân kỳ hạn 84 tháng được Ngân hàng công bố (được niêm yết tại website:www.VP.com.vn) có hiệu lực tại thời điểm điều chỉnh cộng (+) biên độ 3.5%/năm.

- Lãi suất quá hạn: Lãi suất cho vay áp dụng đối với dư nợ gốc quá hạn bằng 150% mức lãi suất cho vay trong hạn áp dụng tại thời điểm chuyển nợ quá hạn.

- Lãi suất chậm trả áp dụng đối với tiền lãi chậm trả bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn áp dụng tại thời điểm chậm trả lãi nhưng tối đa không quá 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.

- Tài sản bảo đảm cho khoản vay nêu trên là: 01 xe ô tô nhãn hiệu TRUONG, biển số đăng ký: 74H-010.29, có số khung RNNM03TD4NCP00024, số máy WP41Q140E50BG09131467 theo Chứng nhận đăng ký xe ô tô do Công an tỉnh Quảng Trị cấp ngày 02/12/2022 mang tên Hồ Văn H theo Hợp đồng thế chấp số LN2211167460291/HĐTC ngày 21/12/2022 ký kết giữa ông Hồ Văn H, bà Hồ Thị G và VP. Tất cả các phụ tùng, thiết bị, vật phụ... được lắp thêm, thay thế vào tài sản thế chấp cũng thuộc tài sản thế chấp.

- Quá trình thực hiện Hợp đồng trên, ông Hồ Văn H và bà Hồ Thị G đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ từ ngày 16/8/2024 và đến ngày 16/12/2024 đã chuyển sang nợ quá hạn. VP đã nhiều lần đôn đốc, tạo điều kiện về mặt thời gian để thanh toán nợ nhưng ông Hồ Văn H và bà Hồ Thị G vẫn không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ.

Tính đến ngày 11/6/2025, ông Hồ Văn H và bà Hồ Thị G còn nợ VP số tiền 301.400.135 đồng. Trong đó: Nợ gốc là 294.850.000 đồng; nợ lãi là 6.550135 đồng.

Nay, VP yêu cầu Tòa án giải quyết:

- Buộc ông Hồ Văn H và bà Hồ Thị G phải trả cho VP số tiền còn nợ gốc và lãi tính đến ngày 11/6/2025 là 301.400.135 đồng và tiền lãi tính từ ngày 12/6/2025 cho đến khi trả hết nợ theo mức lãi suất thỏa thuận tại hợp đồng cho vay.

- Trường hợp ông Hồ Văn H và bà Hồ Thị G không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ, VP có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án áp dụng các biện pháp cần thiết để kê biên, xử lý các tài sản thuộc quyền sở hữu của ông Hồ Văn H và bà Hồ Thị G để thu hồi nợ cho VP là: 01 xe ô tô nhân hiệu TRUONG, biển số đăng ký: 74H-010.29, có số khung RNNM03TD4NCP00024, số máy WP41Q140E50BG09131467 theo Chứng nhận đăng ký xe ô tô do Công an tỉnh Quảng Trị cấp ngày 02/12/2022 mang tên Hồ Văn H theo Hợp đồng thế chấp số LN2211167460291/HĐTC ngày 21/12/2022 ký kết giữa ông Hồ Văn H, bà Hồ Thị G và VP. Tất cả các phụ tùng, thiết bị, vật phụ ... được lắp thêm, thay thế vào tài sản thế chấp cũng thuộc tài sản thế chấp.

- Trường hợp số tiền phát mại tài sản không đủ để thanh toán toàn bộ khoản nợ thì ông Hồ Văn H và bà Hồ Thị G vẫn phải tiếp tục trả nợ cho VP cho đến khi trả hết nợ.

- Ông Hồ Văn H và bà Hồ Thị G phải chịu án phí và các chi phí liên quan (nếu có).

Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn bà Hồ Thị G trình bày: Bà G và ông H có vay tiền của VP để mua xe ô tô tải, tuy nhiên do lãi suất cao nên ông H và bà G có chậm lãi của ngân hàng 01 tháng. Ông H và bà G mong muốn ngân hàng giảm lãi suất và tiếp tục cho ông H và bà G thực hiện hợp đồng.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị phát biểu ý kiến:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án: Thẩm phán, Thư ký được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã được thực hiện đầy đủ nhiệm vụ, quyền hạn và việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử tại phiên tòa được tiến hành công khai, công bằng. Bảo đảm sự vô tư, khách quan trong tố tụng dân sự. Đã thực hiện đầy đủ nhiệm vụ, quyền hạn được quy định tại Điều 48, 51, 203 của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định tại các Điều 70, 71 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn không thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định tại các Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về ý kiến giải quyết vụ án: Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; các Điều 39, 147 Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 4, 99, 100, 103 Luật các tổ chức tín dụng; các Điều 117, 280, 293, 295, 299, 317, 318, 319, 322, 323, 357, 463, 466, 468 Bộ luật dân sự; Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2026, đề nghị Hội đồng xét xử:

- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn VP, buộc bị đơn ông Hồ Văn H và bà Hồ Thị G trả nợ cho VP số tiền tính đến ngày 11/6/2025 là 301.400.135 đồng, trong đó nợ gốc 294.850.000 đồng, nợ lãi trong hạn 6.550.135 đồng và tiền lãi phát sinh từ ngày 12/6/2025 đến khi trả hết nợ.

- Trường hợp bị đơn ông Hồ Văn H và bà Hồ Thị G không thực hiện nghĩa vụ trả nợ hoặc thực hiện nghĩa vụ trả nợ không đầy đủ thì VP có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp là 01 xe ô tô nhân hiệu TRUONG, biển số đăng ký: 74H-010.29, có số khung RNNM03TD4NCP00024, số máy WP41Q140E50BG09131467 theo Chứng nhận đăng ký xe ô tô do Công an tỉnh Quảng Trị cấp ngày 02/12/2022 mang tên Hồ Văn H theo Hợp đồng thế chấp số LN2211167460291/HĐTC ngày 21/12/2022 ký kết giữa ông Hồ Văn H, bà Hồ Thị G và VP để thu hồi nợ. Nếu xử lý tài sản thế chấp mà không thu hồi đủ nợ thì bị đơn ông Hồ Văn H và bà Hồ Thị G phải tiếp tục trả nợ cho VP cho đến khi hết nợ.

- Buộc bị đơn ông Hồ Văn H và bà Hồ Thị G phải chịu 15.070.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Đương sự cung cấp tài liệu, chứng cứ:

Nguyên đơn cung cấp: Văn bản ủy quyền số 200/2025/UQ-KHCN ngày 15/02/2025; Văn bản ủy quyền số 38b/2024/UQN–CTQT ngày 01/06/2024 của ông Ngô Chí Dũng; Giấy phép thành lập và hoạt động Ngân hàng TMCP số 94/GP-NHNN ngày 28/9/2018 (bản sao); Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp Công ty cổ phần của Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng (bản sao); Căn cước công dân của ông Nguyễn Hồng Bắc (bản chứng thực); Hợp đồng cho vay số LN2211167460291 (bản chứng thực); Hợp đồng thế chấp số LN 2211167460291/HĐTC ký ngày 21/12/2022 (bản chứng thực); Khế ước nhận nợ ngày 21/12/2022 (bản chứng thực); Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô mang tên Hồ Văn H (bản chứng thực); Biên bản định giá tài sản ngày 21/12/2022 (bản chứng thực); Phiếu yêu cầu Đăng ký biện pháp bảo đảm ngày 21/12/2022 (bản chứng thực).

Tòa án thu thập chứng cứ: Biên bản xác minh thông tin công dân Hồ Văn H và Hồ Thị G, biên bản xác minh tài sản thế chấp của ông H, bà G tại Công an xã Tân Lập, tỉnh Quảng Trị;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận công khai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

. Về tố tụng:

- Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: VP khởi kiện yêu cầu ông Hồ Văn H và bà Hồ Thị G trả nợ vay theo hợp đồng tín dụng. Ông H và bà G có nơi cư trú tại Bản B, xã TL, huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị. Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự xác định đây là quan hệ tranh chấp về hợp đồng tín dụng, vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị.

- Việc vắng mặt của đương sự: Sau khi thụ lý và trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã cấp, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho các bị đơn ông Hồ Văn H và bà Hồ Thị G theo đúng quy định pháp luật nhưng ông Hồ Văn H và bà Hồ Thị G vắng mặt tại phiên tòa lần thứ 02 không có lý do. Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt các bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

. Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

. Về Hợp đồng tín dụng:

Ông Hồ Văn H và bà Hồ Thị G vay vốn của VP theo Hợp đồng cho vay số LN2211167460291 cùng phụ lục hợp đồng và khế ước nhận nợ ký ngày 21/12/2022; Số tiền cho vay: 450.000.000 đồng; Thời hạn duy trì hạn mức: 84 tháng, tính từ ngày Ngân hàng giải ngân số tiền vay; Mục đích sử dụng vốn: Mua 1 ô tô tải Trường Giang TG6 800-4WD/TM, sản xuất năm 2022 mới 100% phục vụ buôn bán nông sản. Việc ông Hồ Văn H và bà Hồ Thị G ký kết hợp đồng vay vốn của VP trên cơ sở tự nguyện, đúng quy định tại Điều 463 Bộ luật dân sự. Quá trình thực hiện Hợp đồng, ông Hồ Văn H và bà Hồ Thị G đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ từ ngày 16/8/2024 và đến ngày 16/12/2024 VP đã chuyển khoản vay của ông H, bà G sang nợ quá hạn. Mặc dù VP đã nhiều lần đôn đốc, tạo điều kiện về mặt thời gian để trả nợ nhưng ông Hồ Văn H và bà Hồ Thị G vẫn không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi cho VP kể từ ngày 16/8/2024, đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo thỏa thuận tại khoản 7, 8 Điều 1 Khế ước nhận nợ ngày 21/12/2022. Do đó, VP khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Hồ Văn H và bà Hồ Thị G phải trả nợ cho VP là có cơ sở. Căn cứ Điều 99, Điều 100, Điều 103 Luật các Tổ chức tín dụng; Điều 463, 466, 468 Bộ luật dân sự cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của VP, buộc ông Hồ Văn H và bà Hồ Thị G phải trả cho VP số tiền còn nợ tính đến ngày 11/6/2025 là 301.400.135 đồng (Trong đó: Nợ gốc là 294.850.000 đồng; nợ lãi là 6.550135 đồng) và tiền lãi phát sinh từ ngày 12/6/2025 cho đến khi trả hết nợ.

. Về xử lý tài sản thế chấp:

Để đảm bảo cho khoản vay giữa VP và ông Hồ Văn H, bà Hồ Thị G đã ký kết Hợp đồng thế chấp số LN2211167460291/HĐTC ngày 21/12/2022 tài sản là 01 Xe ô tô nhãn hiệu TRUONG, biển số đăng ký: 74H-010.29, có số khung RNNM03TD4NCP00024, số máy WP41Q140E50BG09131467 theo Chứng nhận đăng ký xe ô tô do Công an tỉnh Quảng Trị cấp ngày 02/12/2022 mang tên Hồ Văn H. Như vậy, các bên ký hợp đồng trên cơ sở tự nguyện, không bị ép buộc, không bị lừa dối. Nội dung và hình thức của Hợp đồng phù hợp với quy định của pháp luật và đã được công chứng tại Văn phòng Công chứng Trường Sinh nên có hiệu lực pháp luật.

Trong trường hợp nếu ông ông Hồ Văn H và bà Hồ Thị G không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ cho VP thì VP có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự xử lý tài sản bảo đảm của ông Hồ Văn H và bà Hồ Thị G tại Hợp đồng thế chấp tài sản LN2211167460291/HĐTC ngày 21/12/2022 giữa VP và ông Hồ Văn H, bà Hồ Thị G, tài sản thế chấp là 01 xe ô tô nhân hiệu TRUONG, biển số đăng ký: 74H-010.29, có số khung RNNM03TD4NCP00024, số máy WP41Q140E50BG09131467 theo Chứng nhận đăng ký xe ô tô do Công an tỉnh Quảng Trị cấp ngày 02/12/2022 mang tên Hồ Văn H. Tất cả các phụ tùng, thiết bị, vật phụ ... được lắp thêm, thay thế vào tài sản thế chấp cũng thuộc tài sản thế chấp để thu hồi nợ theo quy định của pháp luật. Trường hợp nếu số tiền thu được từ xử lý tài sản đảm bảo không đủ thanh toán hết nợ thì ông Hồ Văn H và bà Hồ Thị G vẫn phải có nghĩa vụ trả hết khoản nợ còn lại cho VP.

. Về án phí: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn VP được Tòa án chấp nhận nên không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và được hoàn trả số tiền tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp là 8.416.462 đồng. Căn khoản 1 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; buộc bị đơn ông Hồ Văn H và bà Hồ Thị G phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 15.070.007 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Áp dụng Điều 4, Điều 99, Điều 100, Điều 103 Luật các Tổ chức tín dụng; Điều 463, 466, 468; Điều 299, Điều 317, khoản 2 Điều 318, Điều 319, Điều 322 và 323 của Bộ luật dân sự;

Áp dụng khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Buộc ông Hồ Văn H và bà Hồ Thị G phải trả cho Ngân hàng VP tổng nợ gốc và lãi tính đến ngày 11/6/2025 là: 301.400.135 đồng (Trong đó: Nợ gốc là 294.850.000 đồng; nợ lãi là 6.550135 đồng) theo Hợp đồng cho vay số LN2211167460291 cùng phụ lục hợp đồng và khế ước nhận nợ ký ngày 21/12/2022 giữa Ngân hàng VP và ông Hồ Văn H, bà Hồ Thị G.

Kể từ ngày 12/6/2025, ông Hồ Văn H và bà Hồ Thị G còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

Trường hợp ông Hồ Văn H và bà Hồ Thị G không thực hiện nghĩa vụ trả nợ hoặc thực hiện nghĩa vụ trả nợ không đầy đủ cho Ngân hàng VP thì Ngân hàng VP có quyền cầu cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý các tài sản thế chấp của ông Hồ Văn H và bà Hồ Thị G để thu hồi toàn bộ khoản nợ vay. Tài sản thế chấp gồm: 01 xe ô tô nhân hiệu TRUONG, biển số đăng ký: 74H-010.29, có số khung RNNM03TD4NCP00024, số máy WP41Q140E50BG09131467 theo Chứng nhận đăng ký xe ô tô do Công an tỉnh Quảng Trị cấp ngày 02/12/2022 mang tên Hồ Văn H và tất cả các phụ tùng, thiết bị, vật phụ ... được lắp thêm, thay thế theo Hợp đồng thế chấp tài sản LN2211167460291/HĐTC ngày 21/12/2022 ký kết giữa Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam Thịnh Vượng và ông Hồ Văn H, bà Hồ Thị G.

Trường hợp nếu số tiền thu được từ xử lý tài sản thế chấp không đủ thanh toán hết nợ thì ông Hồ Văn H và bà Hồ Thị G vẫn phải có nghĩa vụ trả hết khoản nợ còn lại cho Ngân hàng VP.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

- Hoàn trả lại cho Ngân hàng VP số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 8.416.462 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án ký hiệu BLTU/2023 số 0000300 ngày 07/3/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị.

- Buộc ông Hồ Văn H và bà Hồ Thị G phải chịu 15.070.007 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014.

3. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ