- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyen Van T pham toi trom cap tai san - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? 1/ Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 173; Điều 38; các điểm h, s khoản 1 Điều 51; Điều 56 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BÌNH MINH TỈNH VĨNH LONG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 09/2024/HSST Ngày 31 - 01 - 2024 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BÌNH MINH, TỈNH VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Minh Thiết
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Sơn Mứt; Ông Nguyễn Hữu Tuấn.
- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Huyền Trang – Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân thị xã Bình Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bình Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Việt Thái – Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 01 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Bình Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 01/2024/TLST- HS ngày 03 tháng 01 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 01 năm 2024 đối với bị cáo:
N V Tài (TB), sinh năm 1987; Nơi sinh: Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long. Nơi thường trú: Tổ 22, khóm 2, phường Cái Vồn, thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long. Nơi ở hiện nay: Tổ 22, khóm 2, phường Cái Vồn, thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long; Nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: Không đi học; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông N V Đông (chết) và bà T T Bé, sinh năm 1953; có vợ là: T T M Tiên, sinh năm 1987; Có 01 con Ng G Bảo, sinh năm 2009; Anh em ruột có 06 người.
- Tiền án: 01 tiền án.
Ngày 28/5/2021 bị Tòa án nhân dân thị xã Bình Minh xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
- Tiền sự: Không.
- Nhân thân:
+ Ngày 29/01/2016 bị Tòa án nhân dân thị xã Bình Minh xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
+ Ngày 25/8/2020 bị Công an thị xã Bình Minh xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về tội trộm cắp tài sản.
+ Ngày 23/9/2023 bị Tòa án nhân dân thị xã Bình Minh xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, bản án này đã có hiệu lực thi hành.
Bị cáo đang bị tam giam tại Nhà tạm giữ Công an thị xã Bình Minh từ ngày 31/10/202, được tr ch xu t c m t tại phiên tòa.
- Bị hại: Ông H V Thừa, sinh năm 1962 – vắng mặt
Địa chỉ: khóm X, phường X, thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
1/ Anh L T Nghĩa, sinh năm 1983 - vắng mặt
Nơi cư trú: Khóm B, phường B, thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long.
2/ Anh N V Trường, sinh năm 1985 - vắng mặt
Nơi cư trú: Khóm A, phường A, thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trước đó, ngày 28/5/2021, N V Tài đã bị Tòa án nhân dân thị xã Bình Minh xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” đến ngày 16/8/2022 chấp hành xong hình phạt tù trở về địa phương. Tuy nhiên, ngày 13/8/2023 chưa được xóa án tích Tài tiếp tục trộm cắp tài sản, cụ thể:
Vào khoảng 17 giờ 00 phút, ngày 13/8/2023, Tài đi bộ từ nhà ra đường Lê Văn Vị để nhặt ve chai, khi đến tổ 35, khóm X, phường X, thị xã Bình Minh trước cửa nhà kho đang xây dựng của ông H V Thừa thì nhìn thấy 01 vĩ sắt hình vuông được làm bằng sắt ống loại phi 42 hàn lại với nhau để phía trước nhà kho cặp vỉa hè mà không có người trông coi nên Tài nảy sinh ý định lấy trộm vĩ sắt bán lấy tiền mua ma túy sử dụng. Do vĩ sắt nặng, chỉ mình Tài nên không thể lấy vĩ sắt đem đi nên Tài đến nhà của Nghĩa (Nghĩa là bạn sử dụng ma túy với Tài) thuộc khóm 2, phường A, thị xã Bình Minh, rủ Nghĩa cùng lấy trộm vĩ sắt, khi Tài đến nhà gặp Nghĩa, Tài nói “Nghĩa ơi chở tao đi l y đồ bán l y tiền anh em mình chơi”, Nghĩa hiểu là lấy trộm tài sản và đồng ý. Nghĩa đi vào trong nhà dẫn xe mô tô (không rõ biển số) ra chở Tài đến chỗ để vĩ sắt. Tài xuống xe lấy vĩ sắt lên để trên yên xe phía sau lưng Nghĩa rồi Tài lên xe cho Nghĩa chở đến vựa phế liệu “Hai Tâm” thuộc khóm A, phường A, thị xã Bình Minh bán cho anh Trường là chủ vựa phế liệu được số tiền 294.000đồng, anh Trường cho thêm số tiền 6.000đồng là 300.000đồng. Sau khi có tiền Nghĩa và Tài mua 200.000đồng ma túy sử dụng còn lại 100.000đồng chia nhau mỗi người 50.000đồng.
Khoảng 05 giờ, ngày 14/8/2023, ông Thừa đi ra chỗ nhà kho đang xây dựng để lấy vĩ sắt đem đi cất thì phát hiện đã bị mất. ng Thừa đến nhà của người con rễ tên Hiền kế bên nhà kho ông mở Camera xem thì phát hiện Tài và Nghĩa là người đã lấy trộm vĩ sắt nên ông Thừa đã đến Công an phường trình báo sự việc. Sau đó Công an đã mời Tài về trụ sở làm việc thì Tài thừa nhận toàn bộ hành vi cùng với Nghĩa đã lấy trộm vĩ sắt.
Đối với vĩ sắt sau khi mua anh Trường đã bán lại cho người khác nhưng không nhớ là ai nên không thu hồi được.
Căn cứ kết luận định giá tài sản số: 54/KL. ĐGTS ngày 24/8/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự: 01 vĩ sắt (ba lết) được làm bằng sắt ống tròn, loại phi 42, nặng 42kg có giá trị 1.010.100đồng, (BL số 38).
Cáo trạng số: 04/CT-VKSBM ngày 02/01/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bình Minh truy tố N V Tài về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bình Minh tại phiên toà:
Kiểm sát viên tại phiên tòa, khẳng định nội dung cáo trạng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật giữ nguyên quyết định truy tố, đồng thời phân tích các yếu tố cầu thành tội phạm, đánh giá tính chất mức độ, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
Đề nghị, tuyên bố: N V Tài phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm h, s khoản 1 Điều 51; Điều 56 của Bộ luật hình sự; Đề nghị xử phạt Tài mức án từ đến 01 (một) năm tù, đến 01 (một) năm 06 tháng tù.
- Hình phạt bổ sung: Đề nghị miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo Tài.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 46; 48 Bộ luật hình sự;
+ Đề nghị tiếp tục lưu giữa 01 đĩa DC tại hồ sơ vụ án.
+ Vĩ sắt sau khi mua anh Trường đã bán lại cho người khác nhưng không nhớ là ai nên không thu hồi được nên đề nghị không xử lý vật chứng.
- Về trách nhiệm dân sự:
Ông Thừa không yêu cầu bị báo Tài bồi thường gì thêm nên không xem xét.
+ Đối với Nghĩa có hành vi cùng với bị cáo Tài lấy trộm vĩ sắt của ông Thừa nhưng bản thân Nghĩa chưa có tiền án, tiền sự và giá trị tài sản chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự nên Cơ quan cảnh sát điều tra đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 2.500.000đồng về hành vi trộm cắp tài sản. (BL số 98 -100)
+ Đối với anh Trường chủ vựa phế liệu Hai Tâm ở Khóm X, phường X , thị xã Bình Minh mua vĩ sắt do bị cáo Tài bán nhưng khi mua vĩ sắt không biết vĩ sắt này do Tài trộm cắp mà có nên không có căn cứ xử lý đối với anh Trường về tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có.
+ Đối với xe mô tô (không rõ biển số) mà Nghĩa sử dụng chở bị cáo Tài đi lấy trộm vĩ sắt là xe của người tên Tuấn (không rõ nhân thân) gửi ở nhà Nghĩa nhưng Nghĩa tự lấy chở bị cáo Tài đi lấy trộm, sau khi lấy trộm xong Nghĩa đã trả xe lại cho Tuấn, do Nghĩa khai không rõ nhân thân lai lịch người tên Tuấn nên chưa làm việc được, khi nào làm việc được xử lý sau.
- Về án phí: Áp dụng Điều 135; Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Tài nộp 200.000đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
- Lời nói sau cùng của bị cáo: Xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Tại phiên Tòa:
Bị cáo Tài khai nhận: Vào khoảng 17 giờ 00 phút, ngày 13/8/2023, Tài đi bộ từ nhà ra đường Z để nhặt ve chai, đi đến trước cửa nhà kho đang xây dựng của ông Thừa thì nhìn thấy 01 vĩ sắt hình vuông phía trước nhà kho cặp vỉa hè, không có người trông coi nên Tài nảy sinh ý định lấy trộm vĩ sắt bán lấy tiền mua ma túy sử dụng. Do vĩ sắt nặng nên Tài đến nhà của Nghĩa, rủ Nghĩa cùng lấy trộm vĩ sắt, Nghĩa đồng ý. Nghĩa chở Tài đến chỗ để vĩ sắt và chở Tài đến vựa phế liệu “Hai Tâm” bán cho anh Trường là chủ vựa phế liệu được số tiền 300.000đồng (do anh Trường cho thêm Tài 6.000đồng). Sau khi có tiền Nghĩa và Tài mua 200.000đồng ma túy sử dụng còn lại 100.000đồng chia nhau mỗi người 50.000đồng. Bị cáo thừa nhận hành vi trên của bị cáo là sai trái, vi phạm pháp luật và cam kết không tái phạm.
Xét hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật hình sự bảo vệ, làm mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo là người có sức khỏe, nhưng thích sống hưởng thụ, lười lao động nên dẫn đến việc phạm tội như trên.
Tuy nhiên, khi lượng hình cũng xem xét đến các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo: Sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn; nên áp dụng điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ phần phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
Bản thân bị cáo đã có tiền án về tội trộm cắp tài sản, chưa được xóa án tích, để có tiền mua ma túy sử dụng Tài tiếp tục trộm cắp tài sản thể hiện ý thức xem thường pháp luật. Với mức độ phạm tội này, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian dài nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích và phòng ngừa chung trong xã hội.
- Hình phạt bổ sung: Xét thấy, bị cáo là đối tượng không có nghề nghiệp ổn định, không có thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo Nguyễn Văn Tài.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 46; 48 Bộ luật hình sự;
+ Lưu giữ theo hồ sơ vụ án 01 cái đĩa CD.
+ Sau khi mua vĩ sắt anh Trường đã bán lại người khác nhưng không nhớ họ tên, địa chỉ và không thu hồi được nên không đặt ra xem xét.
Về trách nhiệm dân sự: Ông Thừa không có yêu cầu Tài phải bồi thường nên không xem xét.
Về các vấn đề liên quan:
- Anh Nghĩa có hành vi cùng với Tài lấy trộm vĩ sắt nhưng bản thân Nghĩa chưa có tiền án, tiền sự, giá trị tài sản chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình; Công an thị xã Bình Minh đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 2.500.000đồng về hành vi trộm cắp tài sản.
- Anh Trường chủ vựa phế liệu Hai Tâm ở Khóm Z, phường X, thị xã Bình Minh mua vĩ sắt do bị can Tài bán nhưng khi mua vĩ sắt không biết vĩ sắt này do Tài trộm cắp mà có nên không có căn cứ xử lý đối với anh Trường về tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có.
- Xe mô tô (không rõ biển số) do Nghĩa sử dụng chở Tài lấy trộm vĩ sắt là xe của người tên Tuấn (không rõ nhân thân) gửi tại nhà Nghĩa, Nghĩa tự ý lấy chở Tài đi trộm, sau khi lấy trộm xong Nghĩa đã trả xe lại cho Tuấn, do chưa điều tra được nhân thân, lai lịch người tên Tuấn nên chưa xử lý, khi nào có kết quả xử lý sau.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự. Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc Tài nộp 200.000đồng án phí.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1/ Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 173; Điều 38; các điểm h, s khoản 1 Điều 51; Điều 56 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;
- Tuyên bố N V Tài phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Xử phạt N V Tài 01 (một) năm, 06 (sáu) tháng tù.
Tổng hợp hình phạt 01 (một) năm tù của Bản án số 76/2023/HS-ST, ngày 28/9/2023 Tòa án nhân dân thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long. Buộc bị cáo phải chấp hành chung cho cả hai bản án là 02 (hai) năm, 06 (sáu) tháng tù.
Thời hạn tù được tính kể từ ngày 31/10/2023.
Hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung cho N V Tài.
2/Về trách nhiệm dân sự:
Ông Thừa không yêu cầu gì thêm, không xem xét.
3/Về xử lý vật chứng: Lưu giữ theo hồ sơ vụ án 01 cái đĩa CD.
4/Về án phí sơ thẩm:
Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc N V Tài nộp 200.000đồng án phí hình sự.
5/Về quyền kháng cáo:
Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với những người tham gia tố tụng khác vắng mặt tại phiên tòa, thời hạn kháng cáo là 15 (mười lăm) ngày được tính kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. * Nơi nhận:
| - TAND tỉnh Vĩnh Long; - VKSND tỉnh Vĩnh Long; - Sở tư pháp tỉnh Vĩnh Long; - Phòng hồ sơ - Công an tỉnh Vĩnh Long; - VKSND TX Bình Minh; - Chi cục THADS TX Bình Minh; - CQĐT Công an TX Bình Minh; - Những người tham gia tố tụng khác; - Bị cáo; - Lưu. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA đã ký Trƣơng Minh Thiết |