vanban.org

Bản án 09/2024/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận Tuyên án 15/01/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Hồ Quang H phạm tội: “Trộm cắp tài sản”;

Xử phạt: Bị cáo Hồ Quang H 09 (Chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày chấp hành án. Về án phí: Áp dụng Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp qu… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Hồ Quang H phạm tội: “Trộm cắp tài sản”;
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ PHAN THIẾT
TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 09/2024/HS-ST
Ngày: 15-01-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Công Các hội thẩm nhân dân : Ông Đặng Thanh Tấn Bà Đặng Thị Ngọc Diệu

- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Minh Trang, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hằng- Kiểm sát viên. Ngày 15 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 210/2023/HSST ngày 23 tháng 11 năm 2023 theo quyết định đưa ra xét xử sơ thẩm số 263/2023/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 11 năm 2023 và quyết định hoãn phiên tòa số 291/2023/QĐST ngày 13/12/2023 đối với bị cáo:

Hồ Quang H, giới tính: N, sinh năm: 1996, tại tỉnh Bình Thuận.

Nơi cư trú: Khu phố E, phường T, TP P, Bình Thuận; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam. Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 8/12; Nghề nghiệp: Làm ghe ; Con ông Hồ Quang H1, sinh năm: 1968; nghề nghiệp: Thợ máy ghe và bà Nguyễn Thị Ú; sinh năm 1974; nghề nghiệp: Nội trợ; Anh chị em ruột: Có 02 người, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình; Vợ, con: Chưa có.

- Tiền án, tiền sự: không

- Nhân thân: Ngày 02/01/2018, đi cai nghiện bắt buộc tại Trung tâm Giáo dục lao động xã hội tỉnh B theo Quyết định số 15/2017/QĐ-TA ngày 21/11/2017 của Tòa án nhân dân TP Phan Thiết. Tháng 7/2019, chấp hành xong thời gian cai nghiện.

Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Ông Đỗ Như Đ, sinh năm: 1989 (Vắng mặt).

Nơi cư trú: Xã T, huyện P, tỉnh Bình Thuận

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 22 giờ 30 phút ngày 09/02/2023, anh Đỗ Như Đ dựng xe mô tô Janus biển số 86B9-060.46 ở cạnh một quán cà phê cóc trên đường N thuộc khu phố E, phường T, TP P, rồi theo ghe đi biển. Đến khoảng 00 giờ 15 phút ngày 10/02/2023, trên đường đi bộ về nhà, Hồ Quang H đi ngang đoạn đường trên thì nhìn thấy xe mô tô của anh Đ, không khoá cổ nhưng không có ai trông coi nên đã nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản. Huynh lén lút tiếp cận rồi dắt bộ xe mô tô trên về nhà cất giấu. Mục đích chiếm đoạt để làm phương tiện đi lại.

Khoảng 08 giờ ngày 10/02/2023, sau khi đi biển vào, anh Đỗ Như Đ phát hiện bị mất xe. Ngày 16/02/2023, anh Đ đến Công an phường T trình báo sự việc. Đến ngày 17/02/2023, anh Đ nhìn thấy xe mô tô của mình đang dựng trước nhà của Hồ Quang H ở khu phố E, phường T, TP P nên trình báo Công an phường T. Vật chứng của vụ án: 01 (một) xe mô tô hiệu YAMAHA Janus, biển số 86B9-060.46, màu đỏ đen, số khung: C810HY038625, số máy: E3X8E038630 (do Công an phường T tạm giữ trước nhà Hồ Quang H theo lời khai của bị hại Đỗ Như Đ).

Công an phường đã yêu cầu Hồ Quang H đến trụ sở làm việc. Quá trình làm việc với Cơ quan điều tra, H thừa nhận hành vi phạm tội của mình như trên. Tại Kết luận định giá tài sản số 104/KL-HĐĐGTS ngày 05/7/2023, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự TP P kết luận: Xe mô tô hiệu Janus, biển số 86B9-060.46, số máy: E3X8E038630, số khung: C810HY038625. Giá trị tài sản: 10.666.667 đồng.

Xử lý vật chứng: Quá trình xác minh xác định chiếc xe mô tô trên do chị Đỗ Thị Linh H2; sinh năm 1993, trú tại thôn T, xã T, huyện P, tỉnh Bình Thuận là em ruột của anh Đỗ Như Đ đứng tên chủ sở hữu. Vào ngày 09/02/2023, chị H2 cho anh Đ mượn xe làm phương tiện đi lại, sau đó bị Hồ Quang H trộm cắp. Hiện Cơ quan điều tra đã xử lý vật chứng: trả lại chiếc xe mô tô trên cho chị H2. Chị H2 đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường gì về dân sự.

Tại bản cáo trạng số 163/CT-VKSPT-HS ngày 30/9/2023, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết truy tố bị cáo Hồ Quang H về tội: “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phân tích hành vi phạm tội của bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng tình tiết giảm nhẹ “thành khẩn khai báo” theo điểm s khoản 1, Điều 51, khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình, đề nghị xử phạt bị cáo Hồ Quang H từ 06 đến 09 tháng tù.

- Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Cơ quan điều tra đã xử lý vật chứng trả lại chiếc xe mô tô trên cho chị H2. Chị H2 đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường gì về dân sự nên đề nghị không xem xét, giải quyết.

- Về xử lý vật chứng: Quá trình xác minh xác định chiếc xe mô tô trên do chị Đỗ Thị Linh H2; sinh năm 1993, trú tại thôn T, xã T, huyện P, tỉnh Bình Thuận là em ruột của anh Đỗ Như Đ đứng tên chủ sở hữu. Vào ngày 09/02/2023, chị H2 cho anh Đ mượn xe làm phương tiện đi lại, sau đó bị Hồ Quang H trộm cắp. Hiện Cơ quan điều tra đã xử lý vật chứng: trả lại chiếc xe mô tô trên cho chị H2. Chị H2 đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường gì về dân sự.

Bị cáo Hồ Quang H thừa nhận hành vi phạm tội, không trình bày lời bào chữa, không tranh luận với Kiểm sát viên về hành vi phạm tội của mình cũng như lời kết tội của Kiểm sát viên.

Về lời nói sau cùng, bị cáo Hồ Quang H nói lời sau cùng rất hối hận về hành vi của mình, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định như sau: [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra-Công an thành phố P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

Tại phiên tòa, bị cáo Hồ Quang H không khiếu nại về thủ tục tố tụng.

nhưn

Về căn cứ buộc tội bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng đã nêu, thừa nhận Cáo trạng truy tố là đúng, không oan. Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập hợp pháp trong hồ sơ vụ án nên đủ cơ sở để kết luận: Vào khoảng 00 giờ 15 phút ngày 10/02/2023, tại một quán cà phê cóc trên đường N thuộc khu phố E, phường T, TP P; Hồ Quang H có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 xe mô tô hiệu JANUS, biển số 86B9-060.46 trị giá 10.666.667 đồng của anh Đỗ Như Đ.

Bị cáo Hồ Quang H đã có hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác, trị giá 10.666.667 đồng nên phạm tội: “ Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết truy tố bị cáo về tội “ Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là có căn cứ pháp luật. [3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

-Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không

-Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Hồ Quang H thành khẩn khai báo nên HĐXX xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Hình phạt: Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo Hồ Quang H là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an tại địa phương nên cần phải xử lý nghiêm trước pháp luật nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm chung. Trên cơ sở cân nhắc tính chất, mức độ hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: HĐXX xét thấy cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt và để răn đe, phòng, chống tội phạm chung.

Về trách nhiệm bồi thường về dân sự: Cơ quan điều tra đã xử lý vật chứng trả lại chiếc xe mô tô trên cho chị H2. Chị H2 đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường gì về dân sự nên không xem xét, giải quyết.

Về biện pháp tư pháp: Quá trình xác minh xác định chiếc xe mô tô trên do chị Đỗ Thị Linh H2; sinh năm 1993, trú tại thôn T, xã T, huyện P, tỉnh Bình Thuận là em ruột của anh Đỗ Như Đ đứng tên chủ sở hữu. Vào ngày 09/02/2023, chị H2 cho anh Đ mượn xe làm phương tiện đi lại, sau đó bị Hồ Quang H trộm cắp. Hiện Cơ quan điều tra đã xử lý vật chứng: trả lại chiếc xe mô tô trên cho chị H2. Chị H2 đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường gì về dân sự.

Về án phí: Bị cáo Hồ Quang H phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1.Căn cứ: Khoản 1 Điều 173, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự;

- Tuyên bố: Bị cáo Hồ Quang H phạm tội: “Trộm cắp tài sản”;

- Xử phạt: Bị cáo Hồ Quang H 09 (Chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày chấp hành án.

2.Về án phí: Áp dụng Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Bị cáo Hồ Quang H phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm

Quyền kháng cáo bản án của bị cáo là 15 ngày kể từ ngày tuyên án (Ngày 15/01/2024). Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ