vanban.org

Bản án 09/2024/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Nghĩa Hành, tỉnh Quảng Ngãi Tuyên án 18/01/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng: Điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm k khoản 1 Điều 52; Điều 32; Điều 38; Điều 90, Điều 91; Khoản 1 Điều 101; Điều 65 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Bùi V V phạm tội ‘Cố ý gây thương tích”. Xử phạt: Bị cáo Bùi V V 01 năm 06 (Một năm sáu) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách là 36 tháng, tính từ ngày tuyên án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điề…"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng: Điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm k khoản 1 Điều 52; Điều 32; Điều 38; Điều 90, Điều 91; Khoản 1 Điều 101; Điều 65 Bộ luật Hình sự.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 101 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN N H
TỈNH QUẢNG NGÃI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 09/2024/HS-ST
Ngày 18 - 01 -2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N H, TỈNH QUẢNG NGÃI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Hải Nam.

Các Hội thẩm nhân dân:

- Bà Nguyễn Thị Kiều Hoanh – Chủ tịch Hội phụ nữ huyện N H.

- Ông Bùi Anh Trí – Bí Thư huyện đoàn huyện N H.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Tiến Dũng – Thư ký Tòa án Nhân dân huyện N H, tỉnh Quảng Ngãi.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N H, tỉnh Quảng Ngãi tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Hồng Ngọc - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện N H, tỉnh Quảng Ngãi xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 16/2023/TLST-HS ngày14/12/2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 16/2024/QĐXXST-HS, ngày 08 tháng 01 năm 2023, đối với bị cáo:

Họ và tên: Bùi V V; tên gọi khác: Không; sinh ngày 30/ 9/ 2005, tại: huyện N H, tỉnh Quảng Ngãi; nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn T L, xã H N, huyện N H, tỉnh Quảng Ngãi; nghề nghiệp: Nông; Trình độ học vấn: 07/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông: Bùi V T, con bà: Tiêu Thị T D; vợ: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 22/8/2023 đến nay.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người bị hại:

Anh Trần D H, sinh năm: 1985. (Có mặt)

Địa chỉ: Thôn Đ T L, xã H N, huyện N H, tỉnh Quảng Ngãi.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Bùi V T, sinh năm: 1976 và bà Tiêu Thị T D, sinh năm: 1981. (là Cha mẹ của bị cáo Bùi V V) (Có mặt)

Cùng địa chỉ: Thôn T L, xã H N, huyện N H, tỉnh Quảng Ngãi

- Người bào chữa cho bị cáo V: Bà Bùi Thị T A– Trợ Giúp viên Pháp lý – thuộc Trung Tâm trợ giúp Pháp lý Nhà nước tỉnh Quảng Ngãi.

Địa chỉ: Số 63, đường Phan Đ P, thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi.

- Người làm chứng: Bà Tiêu Thị T D, sinh năm: 1981. (Có mặt)

Địa chỉ: Thôn T L, xã H N, huyện N H, tỉnh Quảng Ngãi

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 22 giờ ngày 18/04/2023, Bùi V V điều khiển xe máy đi từ thị trấn Chợ Chùa, huyện N H về nhà ở thôn T L, xã H N, huyện N H và cầm theo lồng chim. Khi đi đến đoạn đường thuộc thôn T L, xã H N, huyện N H thì gặp Trần D H đang trên đường đi soi bắt ếch, thấy V thì T hỏi “cái lồng chim gì đó cu” thì V nói “lồng chim đem dưới quán về”, rồi T dừng xe máy trước đầu xe máy của V thì V dừng xe lại; T hỏi V “nhà mày ở đâu, con ai” thì V nói “nhà ở T L, con ba T” và nói “có gì để điện ba tôi ra nói chuyện, chứ có gì mà chặn đầu xe” thì T nói “mày điện ai thì điện ra đây”, sau đó V lấy điện thoại gọi cho chú ruột là Bùi V Đ và đưa máy điện thoại cho T nói chuyện với Đ, lúc này T mới biết V là cháu ruột của Đ; giữa T và V có quan hệ họ hàng với nhau (V gọi T là Cậu). T trả lại điện thoại cho V rồi T tiếp tục đi soi bắt ếch, còn V điều khiển xe máy đi về. Khoảng 23 giờ cùng ngày, T đến khu vực đồng vườn Trúc thuộc thôn T L, xã H N để soi bắt ếch, khi đi đến đoạn ngã 3 đường đất hướng vào nhà của V thì dừng xe lại rồi đi soi bắt ếch. Lúc này, V đang ngồi trước hè nhà xem điện thoại thì thấy có xe máy và ánh đèn pin rọi trên đường, cách vị trí V ngồi khoảng 98m nên V vào nhà lấy đèn pin đi ra xem là ai. Khi V đi ra đoạn đường đất trước nhà (cách sân nhà V 81m (về hướng Tây), V thấy T thì nói “hồi nãy chú chặn đầu xe cháu rồi, còn bây giờ chú cầm cây vào nhà làm gì vậy”, T nói không chặn đầu xe V rồi chửi V và ba mẹ V không biết dạy con. T bước đến gần V, chưa có hành động gì đánh V thì V dùng tay phải đẩy T ra thì T dùng hai tay cầm đoạn cây gỗ (loại gỗ keo tròn, to bằng một nửa cổ tay người lớn, dài khoảng 50cm, dùng để bắt ếch) giơ lên đánh khoảng 3-4 cái vào người V thì V liền giơ hai tay đỡ rồi V bỏ chạy vào trong nhà lấy đoạn cây tre tròn, màu xám dài 80cm, một đầu nhỏ được vót nhọn đường kính 1,5cm, một đầu lớn hình tròn đường kính 04cm chạy ra chỗ T, hai bên đứng đối diện nhau, tay trái V cầm đèn pin, tay phải cầm đoạn cây tre đánh khoảng 08 cái vào người của T thì T dùng hai tay đỡ và T cũng dùng đoạn cây gỗ đánh lại V nhiều cái thì V dùng hai tay đỡ. Trong lúc V và T đánh nhau thì bà Tiêu Thị T D (mẹ ruột V) chạy đến can ngăn thì cả hai dừng lại. T điều khiển xe đi về nhà và cầm theo đoạn cây gỗ đã sử dụng đánh V, trên đường T đã làm rơi đoạn cây gỗ này. Khi về đến nhà T thấy cẳng tay trái và cẳng tay phải bị sưng đau nên gia đình đưa đến bệnh viện P H ở thành phố Quảng Ngãi khám và điều trị từ ngày 18/4/2023 đến ngày 24/4/2023 xuất viện.

Tại Bản kết luận giám định số 372/KLTTCT-TTPY ngày 26/05/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh Quảng Nam kết luận thương tích của Trần D H: 01 sẹo kích thước trung bình dọc mặt sau trong đoạn 1/3 dưới cẳng tay phải: 02%, 01 sẹo kích thước trung bình dọc mặt sau trong đoạn 1/3 giữa và dưới cẳng tay trái: 02%, Gãy đoạn dưới xương trụ cẳng tay phải đã được phẫu thuật kết hợp xương tạm ổn: 10%, Gãy đoạn giữa xương trụ cẳng tay trái đã được phẫu thuật kết hợp xương tạm ổn: 10%. Căn cứ T tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28 tháng 8 năm 2019 của Bộ Y tế quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Trần D H tại thời điểm giám định là 22,20% làm tròn: 22% (hai mươi hai phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại T tư.

Tại Bản kết luận giám định số 371/KLTTCT-TTPY ngày 26/05/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh Quảng Nam, kết luận thương tích của Bùi V V: Bong nhẹ chỏm xương bàn II bàn tay phải: 03%. Căn cứ T tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28 tháng 8 năm 2019 của Bộ Y tế quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Bùi V V tại thời điểm giám định là: 03% (ba phần trăm).

- Tại bản Cáo trạng số 02/CT-VKS-NH ngày 12 tháng 12 năm 2023, của Viện kiểm sát nhân dân huyện N H, tỉnh Quảng Ngãi truy tố bị cáo Bùi V V về tội “Cố ý gây thương tích” điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự.

- Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Bùi V V phạm tội “Cố ý gây thương tích” điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự.

Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm k khoản 1 Điều 52; Điều 32; Điều 38; Điều 90; Điều 91; Điều 98; Điều 101; Điều 65 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Bùi V V từ 18 đến 21 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 36 đến 42 tháng.

Dân sự: không có yêu cầu nên miễn xét.

Tịch thu tiêu hủy: Một đoạn cấy tre.

Bị cáo được miễn án phí hình sự theo quy định của pháp luật.

- Người bào chữa cho bị cáo Bùi V V: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo như thành khẩn khai báo, ăn năn hối cãi; đã bồi thường xong cho người bị hại, người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, người bị hại có một phần lỗi trong vụ án đây là những tình tiết giảm nhẹ được qui định tại điểm b,s khoản 1, khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự, nên áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự, xử bị cáo 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Quá trình điều tra, truy tố; điều tra viên đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định tại Điều 37 Bộ luật Tố tụng hình sự; kiểm sát viên thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn được quy định tại Điều 42 Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng không khiếu nại hành vi, quyết định tố tụng của điều tra viên, kiểm sát viên. Do đó, trình tự, thủ tục tố tụng trong vụ án là hợp pháp.

Tại phiên toà lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Khoảng 23 giờ ngày 18/04/2023, bị cáo Bùi V V gặp anh Trần D H tại đường vào nhà của bị cáo thuộc thôn T L, xã H N do trước đó cả hai có cãi nhau về việc soi rọi đèn pin anh T đã dùng tay cầm đoạn cây gỗ đánh khoảng 3- 4 cái vào người bị cáo V, bị cáo V đã chạy vào nhà lấy đoạn cây tre ra đánh vào người anh T, anh T dùng tay đỡ, khi hai bên đang đánh nhau thì có mẹ của bị cáo V là bà Tiêu Thị T D ra can ngăn nên cả hai không đánh nhau nữa, anh T ra về tối đó bị đau sưng tay nên phải nhập Bệnh viện P Hcấp cứu điều trị từ ngày 18/4/2023 đến ngày 24/4/2023 xuất viện.

Tại Bản kết luận giám định số 372/KLTTCT-TTPY ngày 26/05/2023, của Trung tâm pháp y tỉnh Quảng Nam kết luận thương tích của anh Trần D H là 22,20% làm tròn: 22% (Hai mươi hai phần trăm).

Vậy có đủ căn cứ khẳng định bị cáo Bùi V V phạm tội “Cố ý gây thương tích”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự.

Hành vi của bị cáo đã xâm hại đến sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ đã gây dư luận xấu trong xã hội nên cần xử phạt bị cáo một hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo.

Tuy nhiên cũng cần xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt vì trong quá trình điều tra, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cãi; bị cáo và gia đình đã bồi thường cho người bị hại; người bị hại trong vụ án này cũng có một phần lỗi; người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo những tình tiết giảm nhẹ trên được qui định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo có hành vi phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi nên được áp dụng khoản 1 Điều 101 Bộ luật hình sự, trước khi có hành vi phạm tội với anh T, bị cáo chưa vi phạm pháp luật, có nơi cứ trú rõ ràng nên Hội đồng xét xử thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà chỉ cần áp dụng hình phạt tù có điều kiện là đủ có tính chất răn đe giáo dục đối với bị cáo.

Dân sự: Người bị hại đã nhận tiền bồi thường là 6.096.000đ, không có yêu cầu nên miễn xét.

Trong vụ án này anh Trần D H dùng cây gây thương tích cho bị cáo 3%, bị cáo và người đại diện hợp pháp cho bị cáo không yêu cầu khởi tố vụ án nên Cơ quan Công an không khởi tố đối với anh T là có căn cứ pháp luật.

Tịch thu tiêu hủy một đoạn cây tre là tang vật của vụ án.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm do thuộc hộ nghèo theo quy định tại Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Đề nghị của Viện kiểm sát, ý kiến của trợ giúp viên pháp lý phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Áp dụng: Điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm k khoản 1 Điều 52; Điều 32; Điều 38; Điều 90, Điều 91; Khoản 1 Điều 101; Điều 65 Bộ luật Hình sự.

- Khoản 2 Điều 106; Khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

- Tuyên bố: Bị cáo Bùi V V phạm tội ‘Cố ý gây thương tích”.

- Xử phạt: Bị cáo Bùi V V 01 năm 06 (Một năm sáu) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách là 36 tháng, tính từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo Bùi V V cho UBND xã H N, huyện N H, tỉnh Quảng Ngãi theo dõi giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

- Dân sự: Không có yêu cầu.

- Tịch thu tiêu hủy: 01 đoạn cây tre.

Tang vật có đặc điểm theo biên bản giao nhận tang vật do cơ quan Công an chuyển cho Chi cục thi hành án dân sự huyện N H ngày 15/12/2023.

- Án phí hình sự: Bị cáo Bùi V V được miễn án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, người bị hại được quyền kháng cáo bản án trong thời gian 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đối với người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo phần liên quan đến mình trong thời gian 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Anh Trí Nguyễn Thị Kiều Hoanh

Phạm Hải Nam

Cỡ chữ