vanban.org

Bản án 09/2024/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái Tuyên án 21/05/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1- Về tội danh: Tuyên bố Trần Ngọc K phạm tội “Tổ chức đánh bạc”.

2- Về hình phạt: Căn cứ điểm c, điểm d khoản 1 điều 322; điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51; điều 17, điều 58; điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt Trần Ngọc K 02 (Hai) năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 04 (Bốn) năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đố… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Ngọc K - phạm tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc (điều 322 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? 1- Về tội danh: Tuyên bố Trần Ngọc K phạm tội “Tổ chức đánh bạc”.
  • Căn cứ chính? Điều 322 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN L
TỈNH Y

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số 09/2024/HSST
Ngày 21-5-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN L- TỈNH Y

Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Phan D1 Đô.

Các Hội thẩm nhân dân:

1- Ông Hoàng Đình Văn;

2- Bà Triệu Thị Thuỷ Hoàn.

Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Hoàng Ngọc Triều, Thư ký Toà án nhân dân huyện L- tỉnh Y.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện L- tỉnh Y tham gia phiên toà: Ông Nông Văn Luyện- Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện L- tỉnh Y, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 08/2024/TLST-HS ngày 18-3-2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 08/2024/QĐXXST-HS ngày 12-4-2024 đối với bị cáo:

Trần Ngọc K; Tên gọi khác: Không. Sinh ngày 08- 8-1982 tại huyện YB-tỉnh Y. Nơi cư trú: Thôn Kh H- xã T Ng- huyện YB- tỉnh Y. Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam. Con ông Trần Ngọc A và bà Đinh Thị Hg. Vợ là chị Nguyễn Thị X; bị cáo có hai con, lớn nhất sinh năm 2014, nhỏ nhất sinh năm 2016. Hiện tại bố, mẹ, vợ, con bị cáo sinh sống tại thôn Kh H- xã T Ng- huyện YB- tỉnh Y. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt.

Người tham gia tố tụng khác

Người làm chứng:

1. Anh Lý Văn Kh

Nơi cư trú: Thôn Ng- xã Tr- huyện L- tỉnh Y, có mặt;

2. Anh Trần Ánh D

Nơi cư trú: Thôn 2 V- xã Ph- huyện L- tỉnh Y, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 24-4-2020, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Y nhận được đơn trình báo (nặc danh) của công dân thôn Ng- xã Tr- huyện L- tỉnh Y phản ánh về việc các đối tượng tổ chức đánh bạc và đánh bạc ngày 23-4-2020 tại nhà ở của bà Vi Thị Th. Quá trình điều tra, xác minh, Cơ quan điều tra xác định:

Khoảng 13 giờ 00 phút ngày 22-4-2020, Trần Ngọc K gọi điện cho Trần Ánh D trú tại thôn 2 V- xã Ph- huyện L và Lý Văn Kh trú tại thôn Ng- xã Tr-huyện L- tỉnh Y trao đổi rủ nhau tổ chức đánh bạc. D và Kh đồng ý, cả ba thống nhất tổ chức đánh bạc vào ngày 23-4-2020 để kiếm lời.

Khoảng 11 giờ ngày 23-4-2020, K, D, Kh tiến hành việc tổ chức đánh bạc, D gọi điện cho Kh bảo tìm địa điểm. Kh bảo Lý Văn Ch trú tại thôn Ng- xã Tr-huyện L đi tìm mượn địa điểm để đánh bạc. Ch đến gặp bà Vi Thị Th hỏi mượn nhà đánh bạc, bà Th lúc đầu không đồng ý nhưng do cả nể nên bảo Ch “đánh thì đánh nếu bị bắt thì tự chịu”. Ch về thông báo với Kh đã tìm được địa điểm đánh bạc. Khoảng 13 giờ cùng ngày, D đến nhà Kh, Kh bảo đã tìm được chỗ đánh bạc là nhà bà Th, D đi vào nhà bà Th trước, không thấy ai có nhà. D gọi điện cho Kh bảo các đối tượng Nguyễn Văn D2, Hà Văn D4 cùng trú tại thôn T Th- xã T Ng- huyện YB; Nguyễn Văn D1 trú tại thôn Ng B- xã B- huyện YB; Nguyễn Văn C trú tại thôn Đ- xã B- huyện YB; Pờ Xì Hg trú tại thôn T L- xã B- huyện YB- tỉnh Y; Nguyễn Thị D3 trú tại thôn 1 V- xã Ph- huyện L; Đặng Văn N trú tại Ng- xã Tr- huyện L- tỉnh Y sang nhà bà Th đánh bạc. Trần Ngọc K và Đặng Văn G1 trú tại thôn Kh H- xã Tr- huyện L- tỉnh Y đi vào sau. D, Kh bảo Lý Văn Ch và Lý Văn S trú tại thôn Ng- xã Tr- huyện L canh gác cho mọi người đánh bạc, nếu có người lạ đi vào thì gọi điện báo, Ch và S đồng ý. Khi đến nhà bà Th D bảo ai đi cắt quân để làm cái thì Đặng Văn N đi cắt quân làm bằng tre (một mặt màu trắng, một mặt màu đen) để làm cái và lấy bát đĩa ra chỗ chiếu trải ở trên nhà sàn, các đối tượng bắt đầu đánh bạc. Khi đánh bạc thì Lý Văn Kh làm vị, Đặng Văn N xóc cái cho các đối tượng đánh bạc.

Các đối tượng đánh bạc bằng hình thức xóc đĩa được thua bằng tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Người cầm cái cho 04 quân tre vào một chiếc đĩa, dùng 01 chiếc bát úp lên chiếc đĩa rồi xóc, nếu kết quả mở bát có hai hoặc bốn quân đóm tre lật mặt cùng màu thì người đặt cửa chẵn thắng, ngược lại nếu khi mở bát có một hoặc ba quân lật màu đen hoặc trắng thì người đặt cửa lẻ thắng. Cách đánh vị dùng 04 quân bài trong bộ tú lơ khơ gồm 4 rô, 4 tép, 3 rô, 3 tép. Quy ước 4 rô, 3 rô tương đương quân đóm tre mặt màu trắng; 4 tép, 3 tép tương đương quân đóm tre mặt màu đen. Cả 4 quân tú lơ khơ được rải trực tiếp lên chiếu bạc cho người đặt tiền trực tiếp lên quân bài. Nếu mở bát mà cả 4 quân đóm ngửa mặt màu trắng hoặc màu đen thì người đặt cược vị 4 rô hoặc 4 tép thắng; nếu mở bát mà có 03 quân đóm ngửa màu đen hoặc trắng thì người đặt cược vị 3 rô hoặc 3 tép thắng, đặt cửa vị khác là thua tiền cho nhà làm vị. Các đối tượng tham gia đánh bạc không quy định số tiền đặt cược thấp nhất và cao nhất là bao nhiêu, tự thỏa thuận cân bằng số tiền đặt cược cửa chẵn, cửa lẻ, số tiền đặt cược vị sau đó trả tiền thắng thua cho nhau.

Quá trình điều tra các đối tượng khai mang tiền đi theo và sử dụng vào mục đích đánh bạc nhưng có người được, có người thua, số tiền luôn luân chuyển từ đối tượng này sang đối tượng khác, cụ thể:

Lý Văn Kh mang theo 1.000.000 đồng sử dụng vào việc đánh bạc, sau khi đánh bạc thắng được 1.000.000 đồng và đã chỉ tiêu hết; Đặng Văn N mang theo 3.500.000 đồng sử dụng vào việc đánh bạc, sau khi đánh bạc thắng 2.700.000 đồng và đã chi tiêu hết; Đặng Văn G1 mang theo 2.500.000 đồng sử dụng vào việc đánh bạc, sau khi đánh bạc thắng 1.800.000 đồng và đã chi tiêu hết; Nguyễn Văn D1 mang theo 2.000.000 đồng sử dụng vào việc đánh bạc, sau khi đánh bạc thua 1.000.000 đồng, số tiền còn lại đã chỉ tiêu hết; Nguyễn Văn D2 mang theo 13.000.000 đồng sử dụng vào việc đánh bạc và thua hết; Nguyễn Thị D3 mang theo 2.000.000 đồng sử dụng vào việc đánh bạc và thua hết; Nguyễn Văn C mang theo 1.400.000 đồng sử dụng vào việc đánh bạc và thua hết; Pờ Xi Hg mang theo 9.800.000 đồng sử dụng vào việc đánh bạc và thua hết; Hà Văn D4 mang theo 350.000 đồng sử dụng vào việc đánh bạc và thua hết.

Tổng số tiền các đối tượng nêu trên dùng để đánh bạc với nhau là 35.550.000đ (ba mươi lăm triệu năm trăm năm mươi nghìn đồng). Khi các đối tượng đánh bạc được một lúc thì K bảo D thu tiền phế, D thu tiền phế mỗi người 100.000 đồng, tiền làm bảng vị của Kh, D1, N, tiền xóc cái cân cửa chẵn lẻ của N và G1, tổng được số tiền thu được là 1.400.000đ (một triệu bốn trăm nghìn đồng). Số tiền này K bảo D trả cho Ch 600.000 đồng là tiền cho ba người canh gác gồm Lý Văn Ch, Lý Văn S và đối tượng có tên là S1; trả cho L là người bán đồ uống cho các đối tượng đánh bạc là 250.000 đồng; trả cho bà Th 300.000 đồng là tiền dọn dẹp nhà cửa, số tiền còn lại 250.000 đồng D đưa cho K cầm. Số tiền này K, D, Kh chưa thống nhất phân chia.

Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã thu giữ: 01 bát sứ màu trắng loại bát ăn cơm; 01 đĩa sứ màu trắng có hoa văn; 04 quân vị bằng tre; 05 quân bài tú lơ khơ gồm 4 rô, 4 tép, 3 rô, 3 tép, 2 rô; 01 chiếu nhựa. Thu giữ của bà Vi Thị Th tiền ngân hàng nhà nước Việt Nam 300.000 đồng gồm nhiều mệnh giá khác nhau được niêm phong theo quy định

Sau khi sự việc xảy ra, ngày 26-4-2020 Trần Ngọc K vào điều trị tại bệnh viện Trung ương quân đội 108 với chuẩn đoán: Liệt nửa người phải do nhồi máu não diện rộng vùng cấp máu động mạch não giữa trái…

Ngày 28-10-2020 Cơ quan cảnh sát điều tra đã ra quyết định trưng cầu giám định pháp y tâm thần đối với Trần Ngọc K. Ngày 30-10-2020 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L ra Quyết định tách vụ án hình sự; quyết định tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự đối với bị can; quyết định tạm đình chỉ điều tra bị can đối với Trần Ngọc K với lý do đã Trưng cầu giám định đối với Trần Ngọc K nhưng chưa có kết quả.

Ngày 03-02-2021 Tòa án nhân dân huyện L- tỉnh Y đã xét xử bị cáo Hà Văn D4 về tội “đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự. Ngày 29-3-2022 Tòa án nhân dân huyện L- tỉnh Y đã xét xử các bị cáo: Trần Ánh D, Lý Văn Kh, Lý Văn Ch, Lý Văn S về tội “tổ chức đánh bạc” theo quy định tại điểm c, điểm d khoản 1, Điều 322 Bộ luật Hình sự; xét xử bị cáo Vi Thị Th về tội “gá bạc” theo quy định tại điểm c, khoản 1, Điều 322 Bộ luật Hình sự; xét xử các bị cáo: Lý Văn Kh, Đặng Văn N, Đặng Văn G1, Nguyễn Văn D2, Nguyễn Văn D1, Nguyễn Văn C, Nguyễn Thị D3, Pờ Xì Hg về tội “đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự; xử lý các vật chứng đã thu giữ trong vụ án. Các Bản án này đã có hiệu lực pháp luật.

Ngày 14-02-2023 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L ra quyết định trưng cầu giám định Trưng cầu Trung tâm pháp y tâm thần khu vực miền núi phía Bắc, giám định tâm thần đối với Trần Ngọc K.

Tại bản kết luận giám định pháp y tâm thần theo trưng cầu số 27/KLGĐ ngày 30-03-2023 của Trung tâm pháp y tâm thần khu vực miền núi phía Bắc kết luận:

1. Trần Ngọc K, sinh năm 1982, trú tại thôn Khe Hùm, xã T Ng, huyện YB, tỉnh Y không bị bệnh Tâm thần.

2. Tại thời điểm thực hiện hành vi tổ chức đánh bạc vào ngày 23/4/2020 Trần Ngọc K không bị bệnh tâm thần, đủ khả năng nhận thức và đủ khả năng điều khiển hành vi.

3. Hiện tại (thời điểm giám định) Trần Ngọc K không bị bệnh tâm thần, đủ khả năng nhận thức và đủ khả năng điều khiển hành vi.

Sau khi có Kết luận giám định, ngày 16-10-2023 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L- tỉnh Y ra quyết định phục hồi điều tra vụ án hình sự; quyết định phục hồi điều tra vụ án hình sự đối với bị can; quyết định phục hồi điều tra bị can đối với Trần Ngọc K.

Tại bản Cáo trạng số 07/CT-VKS-LY ngày 18-3-2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện L- tỉnh Y đã truy tố Trần Ngọc K về tội “Tổ chức đánh bạc” theo quy định tại điểm c, điểm d khoản 1 điều 322 Bộ luật Hình sự;

Tại phiên toà, trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện L giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Về tội danh: Tuyên bố Trần Ngọc K phạm tội “Tổ chức đánh bạc”.

Về hình phạt: Căn cứ điểm c, điểm d khoản 1 điều 322; điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51; điều 17, điều 58; điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt Trần Ngọc K từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách theo quy định của pháp luật. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về biện pháp tư pháp: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điều 47 Bộ luật Hình sự; tuyên tịch thu nộp ngân sách nhà nước 250.000 đồng của Trần Ngọc K là số tiền do phạm tội mà có.

Áp dụng quy định của pháp luật buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Tại phiên toà Trần Ngọc K khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Bị cáo rất ân hận và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho được hưởng mức án thấp nhất.

Người làm chứng là anh Lý Văn Kh khai: Ngày 22-4-2020, Trần Ngọc K gọi điện rủ anh và Trần Ánh D tổ chức đánh bạc. Ngày 23-4-2020, K, D, Kh tiến hành việc tổ chức đánh bạc tại nhà bà Vi Thị Th ở thôn Ngòi Thìu- xã Tr- huyện L. Các đối tượng đánh bạc bằng hình thức xóc đĩa được thua bằng tiền gồm: Lý Văn Kh, Đặng Văn N, Đặng Văn G1, Nguyễn Văn D2, Nguyễn Văn D1, Nguyễn Văn C, Nguyễn Thị D3, Pờ Xì Hg. Khi đánh bạc có Lý Văn Ch, Lý Văn S là người canh gác. Trần Ngọc K không tham gia đánh bạc. Tổng số tiền các đối tượng nêu trên dùng để đánh bạc với nhau là 35.550.000 đồng. Tổng được số tiền thu được là 1.400.000 đồng, sau khi trả tiền cho người canh gác, người bán đồ uống và trả cho bà Th tiền dọn dẹp nhà cửa, số tiền còn lại 250.000 đồng D đưa cho K cầm. Số tiền này K, D, Kh chưa thống nhất phân chia.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện L, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Về tội danh và hình phạt: Qúa trình xét hỏi và tranh luận công khai tại phiên toà Trần Ngọc K khai nhận hành vi phạm tội. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ. Do hám lợi nên ngày 22-4-2020 Trần Ngọc K đã rủ Trần Ánh D và Lý Văn Kh tổ chức đánh bạc. Vào chiều ngày 23-4-2020 tại nhà ở của bà Vi Thị Th thuộc thôn Ng- xã Tr- huyện L, các đối tượng đã tổ chức cho: Lý Văn Kh, Đặng Văn N, Đặng Văn G1, Nguyễn Văn D2, Nguyễn Văn D1, Nguyễn Văn C, Nguyễn Thị D3, Pờ Xì Hg, Hà Văn D4 đánh bạc bằng hình thức xóc đĩa được thua bằng tiền. Lý Văn Ch, Lý Văn S là người canh gác cho các đối tượng đánh bạc. Tổng số tiền các đối tượng dùng vào việc đánh bạc là 35.550.000 đồng.

Hành vi rủ rê, tụ tập những người khác vào việc đánh bạc với tổng số tiền dùng đánh bạc là 35.550.000 đồng và có phân công người canh gác khi đánh bạc của bị cáo là nghiêm trọng, đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng. gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an trên địa bàn. Mặc dù nhận thức rõ hành vi tổ chức đánh bạc là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố tình thực hiện. Do đó có đủ cơ sở kết luận Trần Ngọc K phạm tội “Tổ chức đánh bạc” theo quy định tại điểm c, điểm d khoản 1 điều 322 Bộ luật Hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện L- tỉnh Y đã truy tố. Cụ thể điều luật quy định như sau:

Điều 322: Tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc

“1. Người nào tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc trái phép thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:…

c). Tổng số tiền, hiện vật dùng đánh bạc trong cùng một lần trị giá 20.000.000 đồng trở lên;

d) Có … phân công người canh gác…khi đánh bạc;”

Đây là vụ án có đồng phạm nhưng là đồng phạm giản đơn, các bị cáo không có sự cấu kết chặt chẽ, nhất thời do hám lợi nên N sinh ý định và thực hiện hành vi phạm tội. Trong vụ án, Trần Ngọc K giữ vai trò Ch, là người khởi xướng việc đánh bạc; Trần Ánh D gọi, tìm người đánh bạc và thu phế; Lý Văn Kh là người tìm địa điểm, tìm người canh gác và trực tiếp làm vị nên D và Kh có vai trò sau Trần Ngọc K. Lý Văn Ch trực tiếp hỏi mượn địa điểm và cùng Lý Văn S là người canh gác nên phải chịu trách nhiệm hình sự với vai trò đồng phạm. Các đối tượng Trần Ánh D, Lý Văn Kh, Lý Văn Ch, Lý Văn S đã bị Tòa án nhân dân huyện L- tỉnh Y xét xử về tội “tổ chức đánh bạc” theo quy định tại điểm c, điểm d khoản 1, Điều 322 Bộ luật Hình sự.

Xét về nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự thấy rằng:

Trần Ngọc K là người lao động chưa có tiền án, tiền sự.

Tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật Hình sự. Mặt khác Trần Ngọc K có bố đẻ là ông Trần Ngọc A là Thương binh được tặng thưởng nhiều Huân chương, Huy chương, Bằng khen; trước khi mở phiên toà xét xử bị cáo đã nhờ gia đình nộp lại số tiền do phạm tội mà có, các tình tiết giảm nhẹ này được quy định tại khoản 2 điều 51 Bộ luật Hình sự.

Từ phân tích trên cho thấy bị cáo có nhân thân tốt; có nơi cư trú rõ ràng; không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điều 52 Bộ luật Hình sự; có 01 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 và 02 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 điều 51 Bộ luật Hình sự. Mặt khác sau khi thực hiện hành vi tổ chức đánh bạc Trần Ngọc K phải đi điều trị tại bệnh viện Trung ương quân đội 108 với chuẩn đoán: Liệt nửa người phải do nhồi máu não diện rộng vùng cấp máu động mạch não giữa trái, hiện tại sức khoẻ chưa hồi phục hoàn toàn. Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, không cần thiết phải cách ly Trần Ngọc K ra khỏi xã hội cũng có thể giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân tốt cho xã hội, đồng thời thể hiện chính sách khoan hồng của Đảng và Nhà nước đối với người lao động nhất thời phạm tội phạm tội.

Theo kết quả xác minh tại địa phương Trần Ngọc K không có tài sản, không có việc làm và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng của vụ án: Toàn bộ các vật chứng Cơ quan cảnh sát điều tra thu giữ đã được xử lý tại Bản án hình sự sơ thẩm số 05/2022/HS-ST ngày 29-3-2022 của Tòa án nhân dân huyện L- tỉnh Y, Bản án đã có hiệu lực pháp luật. Riêng chiếc điện thoại di động Trần Ngọc K sử dụng để liên lạc rủ Trần Ánh D và Lý Văn Kh tổ chức đánh bạc đã bị mất nên không đề cập vấn đề xử lý.

Về biện pháp tư pháp: Đối với số tiền 250.000 đồng thu được sau khi tổ chức đánh bạc Trần Ánh D đưa cho Trần Ngọc K cầm là số tiền do phạm tội mà có cần tịch thu, nộp ngân sách nhà nước.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH

1- Về tội danh: Tuyên bố Trần Ngọc K phạm tội “Tổ chức đánh bạc”.

2- Về hình phạt: Căn cứ điểm c, điểm d khoản 1 điều 322; điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51; điều 17, điều 58; điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt Trần Ngọc K 02 (Hai) năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 04 (Bốn) năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Giao Trần Ngọc K cho Uỷ ban nhân dân xã T Ng- huyện YB- tỉnh Y và gia đình bị cáo giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp Trần Ngọc K thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại điều 68, điều 92 của Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Toà án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

3- Về biện pháp tư pháp: Căn cứ điểm b khoản 1 điều 47 Bộ luật Hình sự; tịch thu số tiền 250.000đ (Hai trăm năm mươi nghìn đồng) của Trần Ngọc K nộp ngân sách nhà nước. Xác nhận gia đình bị cáo đã nộp đủ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện L- tỉnh Y theo biên lai số AA/2023/0001574 ngày 05-4-2024.

4- Về án phí: Căn cứ khoản 2 điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, khoản 1 điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; buộc Trần Ngọc K phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5- Quyền kháng cáo:

Căn cứ các điều 331, 332, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; bị cáo có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ