- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T 01 (một) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày 14/11/2023.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NAM TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 09/2024/HS-ST Ngày 29-01-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NAM, TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Ngọc Oanh
Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Hữu Thái
2. Ông Nguyễn Văn Thụ
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Quốc Tuân, Thư ký Toà án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Quỳnh, Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 01 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 116/2023/TLST-HS ngày 28 tháng 12 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 07/2024/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 01 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Văn T, sinh năm 1989 tại huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang. Tên gọi khác: Không.
Nơi ĐKHKTT: Tổ dân phố C, thị trấn Đ, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa: 09/12; đảng, đoàn thể: Không; con ông: Nguyễn Văn T, sinh năm 1960; con bà Tống Thị H, sinh năm 1970; vợ: Nguyễn Thị H, sinh năm 1990 (đã ly hôn), con: bị cáo có một con sinh năm 2011.
Nhân thân: Ngày 20/4/2011, Nguyễn Văn T bị Ủy ban nhân dân huyện Lục Nam áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa đối tượng vào cơ sở chữa theo Quyết định số 763/QĐ-UBND ngày 20/4/2011.
Tiền án: Bản án số: 37/2013/HS-ST ngày 07/5/2013 của Tòa án nhân dân huyện Lục Nam xử phạt Nguyễn Văn T 08 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, T chấp hành xong hình phạt tù ngày 29/01/2019.
Tiền sự: Ngày 29/9/2022, Nguyễn Văn T bị Tòa án nhân dân huyện Lục Nam áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định số 11/QĐ-TA ngày 29/9/2022 (Tâm chưa chấp hành).
Bị cáo đầu thú, bị tạm giam từ ngày 14/11/2023 đến nay, bị cáo hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Lục Nam, được trích xuất, có mặt tại phiên toà.
- Bị hại: Anh Nguyễn Xuân T, sinh năm 1991; địa chỉ: Thôn B, xã K, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang (vắng mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1983; địa chỉ: Tổ dân phố T, thị trấn Đ, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bị cáo Nguyễn Văn T, sinh năm 1989 ở Tổ dân phố C, thị trấn Đ, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang là đối tượng nghiện, có tiền án về tội ma túy. Trong các ngày 29/5/2023 và ngày 11/8/2023, Tâm đã thực hiện 02 vụ “Trộm cắp tài sản” trên địa bàn thị trấn Đồi Ngô, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang, cụ thể:
Vụ thứ nhất: Buổi chiều ngày 28/5/2023, Tâm đi chơi qua khu vực Nhà hàng 368 thuộc tổ dân phố B, thị trấn Đ, huyện Lục Nam do anh Nguyễn Xuân T, sinh năm 1991 ở thôn B, xã K, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang làm quản lý. Tâm quan sát thấy phía sau Nhà hàng 368 có để hai chiếc lồng sắt bên trong có nhốt nhiều gà thịt nên T nảy sinh ý định trộm cắp. Khoảng 02 giờ ngày 29/5/2023, T một mình điều khiển xe máy biển kiểm soát 98Y1-9810 mang theo 01 chiếc kìm bằng kim loại và 01 chiếc bao tải dứa đi đến khu vực cạnh Nhà hàng 368. Đến nơi T đứng quan sát khoảng 05 phút, thấy không có người T dựng xe trên vỉa hè (vị trí đối diện nhà hàng 368) rồi đi bộ vào khu vực để hai chiếc lồng nhốt gà ở phía sau nhà hàng 368. Do lồng sắt khóa nên T dùng kìm mang theo cắt lan can sắt rồi dùng tay bẻ xuống. Tiếp đó, T thò tay vào bắt được 04 con gà, loại gà ta (03 con gà mái, 01 con gà trống) rồi cho vào bao tải dứa mang theo. Sau đó T quan sát chiếc lồng bên cạnh thấy còn gà nên T tiếp tục dùng kim loại nên T tiếp tục dùng kìm cắt lan can sắt rồi thò tay vào bắt được 08 con gà (đều là gà trống) loại gà Đông Tảo. Sau khi trộm cắp được gà, T xách bao tải ra xe rồi điều khiển xe đi thẳng về nhà cất giấu. Đến khoảng 05 giờ sáng cùng ngày T điều khiển xe máy biển kiểm soát 98Y1-9810 chở số gà trên ra chợ T, thị trấn Đ, huyện Lục Nam bán cho chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1983 ở tổ dân phố T, thị trấn Đ, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang được tổng số tiền là 2.100.000 đồng. Số tiền trên T đã chi tiêu cá nhân hết. Sau khi trộm cắp gà đến ngày 10/8/2023 anh T làm đơn trình báo Công an trị trấn Đ, huyện Lục Nam.
Tại bản kết luận định giá tài sản số: 50/KL-HĐĐG ngày 12/9/2023 của Hội đồng định giá tài sản huyện Lục Nam, kết luận: 08 con gà trống, loại gà Đông Tảo, có khối lượng là 32kg trị giá 6.080.000 đồng; 03 con gà mái, loại gà ta, có tổng khối lượng là 6,6kg trị giá 528.000 đồng; 01 con gà trống, loại gà ta, có khối lượng là 2,2kg trị giá 154.000 đồng. Tổng giá trị tài sản là 6.762.000 đồng.
Về trách nhiệm dân sự: Anh Nguyễn Xuân T yêu cầu bị cáo Tâm bồi thường số tiền 6.762.000 đồng, hiện bị cáo chưa bồi thường.
Vụ thứ hai: Chiều ngày 10/8/2023, T đi qua khu vực cổng làng Gai thấy nhà bà Phạm Thị A, sinh năm 1976 trú tại tổ dân phố G, trị trấn Đ, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang có nuôi nhốt gà ở sau vườn nên T nảy sinh ý định trộm cắp. Khoảng 02 giờ sáng ngày 11/8/2023, T điều khiển xe máy biển kiểm soát 98Y1-9810 mang theo 01 bao tải dứa và kìm đi đến khu vực cổng làng Gai. Đến nơi T dựng xe máy ở ngoài đường rồi đi bộ vào cổng nhà bà A, quan sát không có người T chèo cổng vào trong rồi đi bộ vào khu vực chuồng gà. T lần lượt bắt được 05 con gà (04 con gà trống, 01 con gà mái), loại gà ta rồi theo lối cũ ra ngoài. Khi T đi đến đoạn đường Tỉnh lộ 293 thuộc tổ dân phố C, thị trấn Đ, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang thì bị tổ tuần tra Công an trị thấn Đ, huyện Lục Nam phát hiện. Tâm bỏ chạy vào đường liên thôn thuộc tổ dân phố C, thị trấn Đ, huyện Lục Nam rồi bỏ xe máy cùng bao tải dứa, bên trong có 05 con gà, 01 kìm kim loại. Tiếp đó T bỏ chạy ra cánh đồng rồi đi về nhà. Công an thị trấn Đ, huyện Lục Nam lập biên bản làm việc, thu giữ: 01 xe ô tô biển kiểm soát 98Y1-9810; 01 chiếc bao tải dứa mầu đỏ bên trong có 04 con gà trống, 01 con gà mái, 01 kìm kim loại. Cùng ngày bà A làm đơn trình báo Công an trị thấn Đ, huyện Lục Nam. Công an trị thấn Đ, huyện Lục Nam sau khi xác định trọng lượng gà đã tiến hành trả lại cho bà A.
Ngày 11/8/2023, Nguyễn Văn T đến Công an trị thấn Đ, huyện Lục Nam đầu thú khai nhận hành vi trộm cắp gà nhà bà A và nhà hàng 368.
Tại bản kết luận định giá tài sản số: 51/KL-HĐĐG ngày 12/9/2023 của Hội đồng định giá tài sản huyện Lục Nam, kết luận: 01 con gà mái, loại gà ta có khối lượng là 1,6kg trị giá 112.000 đồng; 04 con gà trống, loại gà ta có tổng khối lượng là 6,7kg trị giá 402.000 đồng. Tổng giá trị tài sản là 514.000 đồng.
Về trách nhiệm dân sự: Bà A không yêu cầu T bồi thường.
Đối với hành vi trộm gà của gia đình bà Nguyễn Thị A, quá trình điều tra xác định trị giá tài sản (5 con gà) do T trộm cắp chưa đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, Công an huyện Lục Nam đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính.
Đối với chị Nguyễn Thị T là người mua gà của Tâm vào ngày 29/5/2023, quá trình điều tra xác định khi mua chị không biết tài sản do T trộm cắp mà có. Sau đó chị đã bán cho nhiều người (không xác định được) nên Cơ quan điều tra không có căn cứ truy tìm và đề cập xử lý.
Về vật chứng: 01 me mô tô biển kiểm soát 98Y1-9810; 01 chiếc bao tải dứa màu đỏ; 01 chiếc kìm bằng kim loại có đặc điểm nêu trên, Cơ quan cảnh sát điều tra chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự huyện Lục Nam để giải quyết theo quy định.
Tại cơ quan điều tra, bị cáo Nguyễn Văn T thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Tại bản cáo trạng số: 04/CT-VKS ngày 27/12/2023 Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173- Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thừa nhận cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố là đúng người, đúng tội, bị cáo không bị oan. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Sau phần xét hỏi, tại phần tranh luận Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam đã phát biểu lời luận tội đối với bị cáo, phân tích tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi mà bị cáo đã thực hiện, nhân thân bị cáo, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo đã giữ nguyên quan điểm như Cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự;
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T từ 10 tháng tù đến 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 14/11/2023. Miễn hình phạt bổ sung bị cáo.
Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 chiếc bao tải dứa màu đỏ, 01 chiếc kìm bằng kim loại và 01 biển kiểm soát 98Y1-9810. Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 xe mô tô nhãn hiệu Dona có số khung là NJ10020010862 và số máy là LC150FMG02231962.
Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi và quyết định của những người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Trước cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ mà cơ quan điều tra đã thu thập được thể hiện trong hồ sơ vụ án về thời gian, địa điểm và diễn biến của quá trình bị cáo thực hiện hành vi phạm tội. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận:
Khoảng 02 giờ ngày 29/5/2023, tại Nhà hàng 368 thuộc Làn 2, tổ dân phố B, thị trấn Đ, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang. Bị cáo Nguyễn Văn T có hành vi trộm cắp 12 con gà (gồm 08 con gà trống, loại gà Đông Tảo và 04 con gà, loại gà ta, trong đó có 03 con gà mái và 01 con gà trống có trị giá 6.762.000 đồng của anh Nguyễn Xuân T, sinh năm 1991 trú tại thôn B, xã K, huyện Lục Nam. Tài sản hiện không thu hồi được để trả cho bị hại.
Xét tính chất của vụ án: Vụ án này có 01 bị cáo phạm tội với lỗi cố ý, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân, ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo Nguyễn Văn T (có tiền án về tội Mua bán trái phép chất ma túy) đã có hành vi lén lút để chiếm đoạt trộm cắp 12 con gà (gồm 08 con gà trống, loại gà Đông Tảo và 04 con gà, loại gà ta, trong đó có 03 con gà mái và 01 con gà trống có trị giá 6.762.000 đồng của anh Nguyễn Xuân T.
Hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Văn T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173- Bộ luật hình sự.
Về nhân thân: Ngày 20/4/2011, Nguyễn Văn T bị Ủy ban nhân dân huyện Lục Nam áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa đối tượng vào cơ sở chữa theo Quyết định số 763/QĐ-UBND ngày 20/4/2011.
Về tiền án: Tại Bản án số: 37/2013/HS-ST ngày 07/5/2013 của Tòa án nhân dân huyện Lục Nam xử phạt Nguyễn Văn T 08 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, T chấp hành xong hình phạt tù ngày 29/01/2019.
Về tiền sự: Ngày 29/9/2022, Nguyễn Văn T bị Tòa án nhân dân huyện Lục Nam áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định số 11/QĐ-TA.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo T chưa được xóa án tích lại phạm tội mới nên phải chịu tình tiết tăng nặng là tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; khi vụ việc bị phát hiện bị cáo đã đến cơ quan cảnh sát điều tra để đầu thú. Do vậy, cần áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo Tâm khi quyết định hình phạt.
Xét thấy, bị cáo Nguyễn Văn T là người có nhân thân xấu, có tiền án, tiền sự, bị cáo đã bị Tòa án xét xử về hành vi Mua bán trái phép chất ma túy, bị cáo đã có thời gian đi chấp hành hình phạt tù. Nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học kinh nghiệm. Chứng tỏ bị cáo là đối tượng khó giáo dục nên cần có hình phạt nghiêm, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Như vậy, cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội như đại diện VKSND huyện đã phát biểu về đường lối giải quyết vụ án.
Về hình phạt bổ sung: Tội phạm do bị cáo thực hiện, lẽ ra phải áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo. Tuy nhiên, HĐXX thấy bị cáo hiện nay không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định do sau khi phạm tội đã bị tạm giam, nên HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại là anh Nguyễn Xuân T yêu cầu bị cáo phải bồi thường cho anh T số tiền 6.762.000 đồng. Hiện nay bị cáo chưa bồi thường cho anh T.
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Tâm đồng ý bồi thường cho anh Nguyễn Xuân T số tiền 6.762.000 đồng.
Xét thấy: Việc bị cáo Tâm đồng ý bồi thường cho anh Nguyễn Xuân T số tiền 6.762.000 đồng là hoàn toàn tự nguyện, không bị ai ép buộc, đúng với quy định của pháp luật, nên HĐXX cần chấp nhận.
Hiện nay, bị cáo đang bị tạm giam, để đảm bảo cho việc thi hành án, HĐXX thấy cần tiếp tục tạm giam bị cáo là phù hợp với Điều 329- BLTTHS.
Về vật chứng của vụ án: Đối với 01 chiếc bao tải dứa màu đỏ và 01 chiếc kìm bằng kim loại là vật chứng bị cáo đã sử dụng khi phạm tội nên cần tịch thu tiêu hủy, HĐXX thấy cần chấp nhận.
Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Dona có số khung là NJ10020010862 và số máy là LC150FMG02231962 là phương tiện bị cáo đã sử dụng khi phạm tội nên cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước, HĐXX thấy cần chấp nhận.
Đối với 01 biển kiểm soát 98Y1-9810 là do bị cáo nhặt được và gắn vào chiếc xe mô tô, chủ sở hữu không có nhu cầu nhận lại và không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
(Vật chứng của vụ án như trong Biên bản giao nhận vật chứng giữa cơ quan cảnh sát điều tra và Chi cục thi hành án dân sự huyện Lục Nam).
Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Quyền kháng cáo: Bị cáo; bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ: Khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1; khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật hình sự; Điều 584, Điều 585, Điều 586 và Điều 589 Bộ luật dân sự.
Điều 106, Điều 135, Điều 136, Điều 331, Điều 332 và Điều 333 - BLTTHS và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
2. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T 01 (một) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày 14/11/2023.
3. Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Nguyễn Văn T phải bồi thường cho anh Nguyễn Xuân T số tiền 6.762.000 đồng.
4. Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 chiếc bao tải dứa màu đỏ, 01 chiếc kìm bằng kim loại và 01 biển kiểm soát 98Y1-9810. Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 xe mô tô nhãn hiệu Dona có số khung là NJ10020010862 và số máy là LC150FMG02231962.
(Vật chứng của vụ án như trong Biên bản giao nhận vật chứng giữa cơ quan cảnh sát điều tra và Chi cục thi hành án dân sự huyện Lục Nam).
5. Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm và 338.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.
6. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, báo cho bị cáo có mặt biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bắc Giang; - VKSND tỉnh Bắc Giang; - VKSND huyện Lục Nam; - Sở Tư pháp tỉnh Bắc Giang; - Chi Cục THADS huyện Lục Nam; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu: VP, Hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Ngọc Oanh |