vanban.org

Bản án 09/2024/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận Tuyên án 29/01/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Lê Trọng Th phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Lê Trọng Th 01 (Một) năm 01 (Một) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày chấp hành án. Miễn toàn bộ thời gian còn lại áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định số 41/QĐ-TA ngày 28/8/2023 của Tòa án nhân dân huyện Hàm Th Bắc kể từ n… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - Bị truy tố tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lê Trọng Th phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 173 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HÀM THUẬN B
TỈNH BÌNH TH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 09/2024/HS-ST.
Ngày: 29-01-2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN B,

TỈNH BÌNH TH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bạch T.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Đặng Văn M.

2. Bà Đào Thị Mộng Tr.

- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Kim Q– Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hàm Th Bắc, tỉnh Bình Th.

- Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Th Bắc, tỉnh Bình Th tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng V– Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 01 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hàm Th Bắc xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hình sự thụ lý số 177/2023/HS.ST ngày 25/12/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 04/2024/QĐXXST-HS ngày 15/01/2024 đối với bị cáo:

LÊ TRỌNG TH– Sinh năm: 2001; Giới tính: Nam. Nơi sinh: tỉnh Bình Th. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn Dốc L, xã Th M, huyện Hàm Th B, tỉnh Bình Th. Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Không. Trình độ học vấn: 06/12. Cha: Lê Văn L, sinh năm 1975 (chết). Nghề nghiệp: Làm nông. Mẹ: Đặng Nguyễn Ngọc Tr, sinh năm 1979. Hiện trú tại thôn Dốc Lăng, xã Th Minh, huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Th. Gia đình có 03 anh chị em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình.

Tiền án: không

Tiền sự: - Ngày 07/7/2023, bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Th Minh ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 202/QĐ-XPHC về hành vi trộm cắp tài sản, hình thức phạt tiền, số tiền 2.500.000 đồng.

- Ngày 28/8/2023, bị Tòa án nhân dân huyện Hàm Th Bắc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định số 41/QĐ-TA.

Nhân Thân: Ngày 30/3/2022, bị Tòa án nhân dân huyện Hàm Th Bắc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định số 09/QĐ-TA, chấp hành xong quyết định ngày 19/3/2022.

Bị cáo hiện đang điều trị cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở điều trị nghiện ma túy tỉnh Bình Th từ ngày 26/10/2023. Bị cáo có mặt.

Bị hại:

1/ Bà Cao Thị Huỳnh H– Sinh năm 1985; Địa chỉ: Thôn Dốc Lăng, xã Th Minh, huyện Hàm Th Bắc, tỉnh Bình Th.

2/ Bà Bùi Thị C– Sinh năm 1976; Địa chỉ: Thôn 1, xã Th Minh, huyện Hàm Th Bắc, tỉnh Bình Th.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Ông Lê Đăng Đ– sinh năm 1986; Địa chỉ: Thôn Lâm Giang, xã Hàm Trí, huyện Hàm Th Bắc, tỉnh Bình Th.

- Ông Đinh Thành Tr– sinh năm 1976; Địa chỉ: Thôn Phú Thắng, xã Hàm Phú, huyện Hàm Th Bắc, tỉnh Bình Th.

Các bị hại và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 07/7/2023, Lê Trọng Th, sinh năm 2001, trú tại thôn Dốc L, xã Th M, huyện Hàm Th Bbị Chủ tịch UBND xã Th Minh ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 2.500.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản, theo Quyết định số 202/QĐ-XPHC. Mặc dù đang trong thời hạn chưa được coi là chưa bị xử phạt hành chính, Lê Trọng Th tiếp tục thực hiện hai vụ trộm cắp tài sản của người khác, cụ thể như sau:

Vụ thứ nhất: Khoảng 14 giờ ngày 21/8/2023, Lê Trọng Th ngồi trong nhà Th nhìn ra đồng ruộng trước nhà cách khoảng 100m thì thấy có 03 chiếc xe mô tô đang dựng trên đường đi, sát mương nước. Đây là 03 chiếc xe mô tô, xe máy của gia đình ông Huỳnh Thanh H, sinh năm 1979 và bà Cao Thị Huỳnh H, sinh năm 1985, đều trú tại thôn Dốc L, xã Th M, huyện Hàm Th Bdựng rồi làm dưới ruộng, trong đó có chiếc xe máy nhãn hiệu HADOSIVA, biển số 86AD-023.53 do ông H dựng, trên xe vẫn cắm chìa khóa. Lúc này, Th nảy sinh ý định trộm cắp xe mô tô đang dựng để bán lấy tiền tiêu sài nên đi bộ từ nhà đến ngồi dưới bụi cây trứng cá, cách 03 chiếc xe của gia đình ông H khoảng 10m để quan sát, chờ sơ hở thì lấy trộm. Thấy Th ngồi gần xe, ông H đi đến hỏi: “làm gì ngồi đây”, Th trả lời “có làm gì đâu” nên ông H xuống ruộng tiếp tục làm việc. Khoảng 15 phút sau, quan sát thấy gia đình ông H không để ý, Th đi đến chỗ dựng 03 chiếc xe, dắt chiếc xe máy biển số 86AD-023.53, ngồi lên xe nổ máy rồi điều khiển chạy ra đường nhựa. Nghe tiếng xe nổ, mọi người trong gia đình ông H nhìn lên thì thấy Th điều khiển chiếc xe biển số 86AD-023.53 nên tri hô, đuổi theo nH không kịp. Lê Trọng Th điều khiển xe máy biển số 86AD-023.53 đến vựa phế liệu của ông Lê Đăng Điệp, sinh năm 1986, ở thôn Lâm Giang, xã Hàm Trí, huyện Hàm Th Bắc để bán. Tại đây, Th hỏi ông Điệp có mua xe không, ông Điệp hỏi xe của ai thì Th nói dối: “xe của nhà”. Ông Điệp tin tưởng, đồng ý mua chiếc xe máy biển số 86AD-023.53 với giá 500.000 đồng. Th dùng số tiền này chơi game và tiêu sài cá nhân hết.

Vụ thứ hai: Khoảng 14 giờ ngày 13/10/2023, Lê Trọng Th đi cắt măng tre ở khu vực thôn 1, xã Th Minh thì phát hiện chiếc xe mô tô biển số 86F6-8102 do bà Bùi Thị Cúc, sinh năm 1976, trú tại thôn 1, xã Th Minh dựng ở chòi của ông Nguyễn Thành Trung. Quan sát thấy không có ai trông coi nên Th lén lút đi đến nơi để xe, rút dây điện gắn với ổ khóa, đạp xe nổ rồi điều khiển đến vựa phế liệu của ông Đinh Thành Trung, sinh năm 1979, ở thôn Phú Thắng, xã Hàm Phú, huyện Hàm Th Bắc để bán. Tại đây, Th hỏi anh Trung: “có mua xe này không tôi bán giá 700.000 đồng”, anh Trung hỏi: “xe này ở đâu?”, Th nói dối: “xe này ở nhà”. Anh Trung tin tưởng, đồng ý mua chiếc xe mô tô biển số 86F6-8102 với giá 700.000 đồng. Số tiền có được từ việc bán xe mô tô, Th dùng tiêu xài cá nhân hết.

Sau khi phát hiện mất xe mô tô biển số 86F6-8102, bà Bùi Thị Cđã đến Công an xã Th Minh trình báo vụ việc. Qua xác minh, Công an xã Th Minh đã mời Lê Trọng Th làm việc. Tại đây, Th đã thừa nhận hành vi trộm cắp của mình.

Vật chứng thu giữ:

- Ông Lê Đăng Đ tự nguyện giao nộp cho Công an xã Th Minh 01 xe máy biển số 86AD-023.53.

- Ông Đinh Thành Tr tự nguyện giao nộp cho Công an xã Th Minh 01 xe mô tô biển số 86F6-8102.

- Thu giữ của bà Cao Thị Huỳnh H 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 86AD-023.53

- Thu giữ của bà Bùi Thị C 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 86F6-8102

Tại bản kết luận định giá tài sản số: 70/KL-HĐĐGTS ngày 18 tháng 9 năm 2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Hàm Th Bắc kết luận:

01 xe máy, biển số 86AD-023.53, nhãn hiệu HADOSIVA, số loại CKD50, màu sơn đỏ đen, dung tích 49cc, số khung:B5UMET203759, số máy: 139FMB203759, xe đăng ký lần đầu tháng 8/2016, xe đã qua sử dụng, thời điểm định giá ngày 21/8/2023 có trị giá là 1.700.000 đồng.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 79/KL-HĐĐGTT ngày 27/10/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Hàm Th Bắc kết luận:

01 xe mô tô, biển số 86F6-8102, nhãn hiệu MINGXING, loại xe nữ, màu sơn nâu, dung tích xi lanh 97 cm3, xe đã qua sử dụng, thời điểm định giá ngày 13/10/2023 có trị giá là 1.700.000 đồng.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hàm Th Bắc đã ra Quyết định xử lý vật chứng, trả lại chiếc xe mô tô tô và giấy đăng ký xe biển số 86AD-023.53 cho bị hại Cao Thị Huỳnh Hvà trả lại xe mô tô tô và giấy đăng ký xe biển số 86F6-8102 cho bị hại Bùi Thị Cúc. Sau khi nhận lại tài sản, bà H, bà Cúc và các ông Lê Đăng Điệp, Đinh Thành Trđều không yêu cầu bồi thường gì về dân sự.

Tại bản cáo trạng số 05/CT-VKSHTB ngày 22/12/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Th Bắc truy tố Lê Trọng Th về tội: “Trộm cắp tài sản” theo điểm a Khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ diễn biến hành vi phạm tội đã thực hiện đúng như lời khai tại Cơ quan điều tra. Xác định Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hàm Th Bắc truy tố bị cáo về tội danh và điều luật như bản Cáo trạng đã nêu là đúng, bị cáo không có ý kiến gì về nội dung bản cáo trạng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Th Bắc, tỉnh Bình Th giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố: Bị cáo Lê Trọng Th phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng điểm a Khoản 1 Điều 173; Điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Lê Trọng Th từ 01 năm 03 tháng tù đến 01 năm 06 năm tù.

Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự:

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hàm Th Bắc đã ra Quyết định xử lý vật chứng, trả lại chiếc xe mô tô tô và giấy đăng ký xe biển số 86AD-023.53 cho bị hại Cao Thị Huỳnh Hvà trả lại xe mô tô tô và giấy đăng ký xe biển số 86F6-8102 cho bị hại Bùi Thị Cúc. Sau khi nhận lại tài sản, bà H, bà Cúc và các ông Lê Đăng Điệp, Đinh Thành Trđều không yêu cầu bồi thường gì về dân sự.

Bị cáo nói lời nói sau cùng: Bị cáo thấy hành vi của mình là sai trái, mong hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Hàm Th Bắc, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Th Bắc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Lê Trọng Th không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo Lê Trọng Th khai nhận về hành vi phạm tội của bị cáo đúng như Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hàm Th Bắc đã truy tố. Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại Tòa phù hợp lời khai tại Cơ quan điều tra Công an huyện Hàm Th Bắc, các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ và được thẩm tra tại phiên tòa. Đủ căn cứ pháp luật để khẳng định:

Khoảng 14 giờ ngày 21/8/2023, tại khu vực ruộng của gia đình ông Huỳnh Thanh H thuộc thôn Dốc Lăng, xã Th Minh, huyện Hàm Th Bắc, Lê Trọng Th đã lén lút chiếm đoạt 01 chiếc xe máy biển số 86AD-023.53 của bà Cao Thị Huỳnh Hrồi đem đến bán cho ông Lê Đăng Đđược 500.000 đồng, Th dùng số tiền này tiêu sài cá nhân. Trị giá chiếc xe máy biển số 86AD-023.53 là 1.700.000 đồng.

Khoảng 14 giờ ngày 13/10/2023, tại chòi của ông Nguyễn Thành Trung, thuộc thôn 1, xã Th Minh, huyện Hàm Th Bắc, Lê Trọng Th tiếp tục lén lút chiếm đoạt 01 chiếc xe mô tô biển số 86F6-8102 của bà Bùi Thị Crồi đem đến bán cho ông Đinh Thành Trđược 700.000 đồng, Th dùng số tiền này tiêu sài cá nhân. Trị giá chiếc xe mô tô biển số 86F6-8102 là 1.700.000 đồng.

Tổng giá trị tài sản mà Lê Trọng Th chiếm đoạt là 3.400.000 đồng.

Lê Trọng Th đang trong thời hạn chưa được coi là chưa bị xử phạt hành chính, tiếp tục trộm cắp tài sản của người khác trị giá dưới 2.000.000 đồng nên đủ yếu tố cấu thành tội phạm “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 173 BLHS.

Hành vi trên của bị cáo Lê Trọng Th đủ yếu tố cấu thành tội“Trộm cắp tài sản” theo Điểm a Khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Th Bắc truy tố bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Xét tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận định: Xuất phát từ bản chất tham lam, lười lao động, thích hưởng thụ, muốn có tiền tiêu sài cá nhân mà không phải lao động cực nhọc, nên bị cáo đã lợi dụng sự sơ hở của chủ sở hữu trong việc quản lý tài sản để lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác thỏa mãn nhu cầu vật chất cá nhân, bất chấp pháp luật với giá trị là 3.400.000 đồng. Bị cáo là người đã có tiền sự bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Th Minh ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 202/QĐ-XPHC về hành vi trộm cắp tài sản, hình thức phạt tiền, số tiền 2.500.000 đồng, ngày 07/7/2023.

Bị cáo nhận thức được việc làm của mình nH vẫn cố ý thực hiện, hành vi phạm tội của bi ̣ cáo thể hiện sự xem thường kỷ cương pháp luật , xâm phạm tài sản hợp pháp của người khác gây bất bình, tạo ra tâm lý hoang mang, lo lắng trong quần chúng nhân dân, gây mất an ninh trật tự địa pH là nguy hiểm cho xã hội, nên cần thiết phải lên cho bị cáo mức án nghiêm khắc, cần cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo thành công dân tốt và phòng ngừa chung.

[4[ Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại phiên tòa hôm nay Hội đồng xét xử xét bị cáo thành khẩn khai báo là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại Điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Đối với mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị cho bị cáo là phù hợp với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo. Do đó, Hội đồng xét xử sẽ xem xét quyết định khi lượng hình.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời gian 15 tháng theo Quyết định số 41/QĐ-TA ngày 28/8/2023 của Tòa án nhân dân huyện Hàm Th Bắc, bị cáo đangchấp hành Quyết định này. Trong vụ án này bị cáo Th bị xử phạt tù giam nên theo Quy định tại Điều 117 Luật xử lý vi phạm hành chính, bị cáo Th được miễn toàn bộ thời gian còn lại áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định số 41/QĐ-TA ngày 28/8/2023 của Tòa án nhân dân huyện Hàm Th Bắc kể từ ngày bị cáo chấp hành án.

[6] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo Lê Trọng Th không có việc làm ổn định, không có thu nhập, căn cứ khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo Lê Trọng Th.

[7] Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự:

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hàm Th Bắc đã ra Quyết định xử lý vật chứng, trả lại chiếc xe mô tô tô và giấy đăng ký xe biển số 86AD-023.53 cho bị hại Cao Thị Huỳnh Hvà trả lại xe mô tô tô và giấy đăng ký xe biển số 86F6-8102 cho bị hại Bùi Thị Cúc. Sau khi nhận lại tài sản, bà H, bà Cúc và các ông Lê Đăng Điệp, Đinh Thành Trđều không yêu cầu bồi thường gì về dân sự, nên không xem xét giải quyết.

[8] Về những vấn đề khác:

Đối với ông Lê Đăng Đ và ông Đinh Thành Tr là những người đã mua xe của Lê Trọng Th, tuy nhiên ông Điệp và ông Trung không biết đó là tài sản do phạm tội mà có, do đó không có căn cứ để xử lý về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo Điều 323 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Bị cáo Lê Trọng Th phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ theo quy định tại Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điểm a Khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

1. Tuyên bố: Bị cáo Lê Trọng Th phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Lê Trọng Th 01 (Một) năm 01 (Một) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày chấp hành án.

Miễn toàn bộ thời gian còn lại áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định số 41/QĐ-TA ngày 28/8/2023 của Tòa án nhân dân huyện Hàm Th Bắc kể từ ngày bị cáo Th chấp hành án.

Căn cứ Khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự, không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo Lê Trọng Th.

2. Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Lê Trọng Th phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo đối với bản án:

Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (29/01/2024). Riêng các bị hại và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai tại địa pH.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ