vanban.org

Bản án 09/2024/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Bắc Ninh Tuyên án 05/02/2024 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 05/02/2024 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Văn H, giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.

Quyết định tạm giam bị cáo 45 (Bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án phúc thẩm để đảm bảo thi hành án. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị tiếp tục có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Văn H Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Văn H, giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.
  • Căn cứ chính? Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 52 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BẮC NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 09/2024/HS-PT
Ngày: 05/02/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh Thu.

Các Thẩm phán: Ông Đỗ Văn Đại.

Ông Đỗ Thế Bình.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Thủy - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 02 năm 2024, tại điểm cầu trung tâm tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh và điểm cầu thành phần tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Ninh, Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh xét xử phúc thẩm công khai, trực tuyến vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 136/2023/TLPT – HS ngày 28/12/2023 đối với bị cáo Trần Văn H do có kháng cáo của bị cáo H đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 23/2023/HSST ngày 14/11/ 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh.

Bị cáo có kháng cáo: Trần Văn H, sinh năm 1996.

Nơi ĐKHKTT: Khu Phù L, phường Phù L, thị xã Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh; Giới tính: Nam; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Không; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Văn N, sinh năm 1969 và bà Phan Thị V, sinh năm 1969; Vợ, con: Chưa có.

Tiền án: Bản án hình sự sơ thẩm số 58/2021/HS-ST ngày 22/6/2021 của Tòa án nhân dân huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội xử phạt 01 năm 3 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 25/3/2022.

Tiền sự: Không;

Nhân thân: Ngày 18/9/2023, bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Bắc Giang ra Quyết định khởi tố vụ án số 226/QĐ-CSHS và Quyết định khởi tố bị can số 437/QĐ-CSHS về tội “Trộm cắp tài sản”

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/7/2023 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Ninh. Có mặt tại phiên tòa.

Những người tham gia tố tụng khác:

1. Ông Nguyễn Hữu B -Cán bộ phụ trách tin học Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh. Có mặt tại điểm cầu trung tâm.

2. Cán bộ phụ trách tin học thuộc Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Ninh. Có mặt tại điểm cầu thành phần.

Trong vụ án còn có 01 bị cáo; bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không kháng cáo và không liên quan đến kháng cáo, không bị kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do không có nghề nghiệp và không có tiền ăn tiêu nên Trần Văn H đã nảy sinh ý định đi trộm cắp tài sản. Trong thời gian từ ngày 24/5/2023 đến 20/7/2023, một mình H đã sử dụng xe môtô nhãn hiệu Yamaha Jupiter màu đen trắng, BKS: 89E1-068.30 (H mượn của anh Nguyễn Huy T, sinh năm 1988, HKTT: Thôn Thọ Bình, xã Tân Dân, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên từ tháng 01 năm 2023), mang theo kìm cắt sắt, cờ lê, dao dọc giấy thực hiện 10 vụ cắt trộm dây cáp điện trung tính tại 16 trạm biến áp trên địa bàn thành phố Bắc Ninh do Công ty điện lực thành phố Bắc Ninh quản lý. Cụ thể:

Lần 01: Khoảng 02 giờ ngày 24/5/2023, H điều khiển xe môtô đi đến trạm biến áp số 1 cụm công nghiệp Võ Cường, thuộc khu Hòa Đình, phường Võ Cường, thành phố Bắc Ninh, H dùng hai tay cầm dây cáp điện giật đứt đầu nối và dùng kìm mang theo cắt đứt 01 sợi dây cáp điện trung tính, ký hiệu CU/XLPE/PVC-1x240 dài 05m, có vỏ bọc ngoài màu đen.

Lần 02: Khoảng 02 giờ ngày 25/5/2023, H điều khiển xe môtô, đi đến trạm biến áp Lê Văn Thịnh 02 tại phường Suối Hoa, thành phố Bắc Ninh, dùng kìm cắt trộm được 01 sợi dây cáp điện trung tính CU/XLPE/PVC-1x95 dài 14m, có vỏ bọc ngoài màu đen.

Lần 03: Khoảng 02 giờ ngày 07/6/2023, H lần lượt đi đến các trạm biến áp thuộc phường Kinh Bắc, thành phố Bắc Ninh để cắt trộm các dây cáp điện, cụ thể: Tại trạm biến áp số 1 Hòa Long, Kinh Bắc 1: 01 sợi dây cáp điện trung tính CU/XLPE/PVC-1x185 dài 7m, có vỏ bọc ngoài màu đen. Tại trạm biến áp số 5 Hòa Long, Kinh Bắc 2: 01 sợi dây cáp điện trung tính CU/XLPE/PVC-1x95 dài 4,5m, có vỏ bọc ngoài màu đen. Tại trạm biến áp Niềm Xá số 2: 01 sợi dây cáp điện trung tính CU/XLPE/PVC-1x95 dài 4m, có vỏ bọc ngoài màu đen. Tại trạm biến áp Niềm Xá số 3: 01 sợi dây cáp điện trung tính CU/XLPE/PVC-1x95 dài 4,5m, có vỏ bọc ngoài màu đen.

Lần 04: Khoảng 02 giờ ngày 09/6/2023, H đi xe môtô đến trạm biến áp khu Thượng Làng 3, thuộc phường Khắc Niệm, thành phố Bắc Ninh, cắt trộm được 01 sợi dây cáp điện trung tính CU/XLPE/PVC-1x95 dài 4,5m, có vỏ bọc ngoài màu đen.

Lần 05: Khoảng từ 01 giờ đến 03 giờ ngày 15/6/2023, H đi xe môtô đến trạm biến áp khu Bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Ninh, thuộc phường Võ Cường, thành phố Bắc Ninh cắt trộm được 01 sợi dây cáp điện trung tính CU/XLPE/PVC-1x185 dài 5m. Sau đó H đi đến trạm biến áp số 05 cụm công nghiệp Võ Cường, thuộc khu Hòa Đình, phường Võ Cường, thành phố Bắc Ninh, cắt trộm 01 sợi dây cáp điện trung tính CU/XLPE/PVC-1x185 dài 5m, có vỏ bọc ngoài màu đen.

Lần 06: Khoảng 0 giờ ngày 16/6/2023, H đến trạm biến áp 2 KNO, Khả Lễ 1, thuộc khu Khả Lễ, phường Võ Cường, thành phố Bắc Ninh, cắt trộm 01 sợi dây cáp điện trung tính CU/XLPE/PVC-1x185 dài 10m, có vỏ bọc ngoài màu đen.

Lần 7: Khoảng từ 01 giờ đến 03 giờ ngày 21/6/2023, H đến trạm biến áp 3 KNO, Khả Lễ 1, thuộc khu Khả Lễ, phường Võ Cường, thành phố Bắc Ninh cắt trộm 01 sợi dây cáp điện trung tính CU/XLPE/PVC-1x120 dài 5m, có vỏ bọc ngoài màu đen. Sau đó H đi đến trạm biến áp TBA Khả Lễ 2, thuộc khu Khả Lễ cắt trộm 02 sợi dây cáp điện trung tính gồm: 01 sợi cáp CU/XLPE/PVC-1x120 dài 5m, có vỏ bọc ngoài màu đen, và 01 sợi dây cáp CU/XLPE/PVC-1x240 dài 5m, có vỏ bọc ngoài màu đen.

Lần 08: Khoảng 02 giờ ngày 06/7/2023, H đến trạm biến áp số 07 VNKB tại vị trí ngã 3 giao nhau giữa đường Ngô Quyền với đường Lạc Long Quân, thuộc phường Kinh Bắc, thành phố Bắc Ninh cắt trộm được 03 đoạn cáp điện trung tính gồm: 02 sợi dây cáp điện trung tính ký hiệu CU/XLPE/PVC-1x95, có tổng chiều dài 14m (mỗi dây dài 7m), 01 sợi dây cáp điện trung tính ký hiệu CU/XLPE/PVC-1x70 dài 7m, có vỏ bọc ngoài màu đen.

Tất cả những lần trộm cắp được dây cáp điện nêu trên sau đó H lột vỏ lấy lõi đồng, đi bán trong đêm. Do thời gian đã lâu nên H không nhớ rõ đã bán ở địa điểm nào và được bao nhiêu tiền, số tiền bán dây cáp đồng trộm cắp được H đã tiêu xài cá nhân hết.

Lần 9: Khoảng 01 giờ ngày 19/7/2023, H tiếp tục sử dụng xe môtô đi đến trạm biến áp số 4 KNO, Khả Lễ 1, thuộc khu Khả Lễ, phường Võ Cường cắt trộm 03 sợi dây cáp điện trung tính CU/XLPE/PVC-1x120 có tổng chiều dài là 15m (mỗi dây dài 5m). Ngay sau đó, H đem số lõi đồng này đến bán cho Nguyễn Thị T1, sinh năm 1982, HKTT: Thôn Xuân Thủy, xã Xuân Thu, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội, là chủ cửa hàng thu mua sắt vụn tại vòng xuyến thuộc xã Tân Chi, huyện Tiên Du, Bắc Ninh với giá tiền là 180.000 đồng/1kg. T1 cùng H cân số đồng này được 9,5kg, T1 trả cho H số tiền là 1.700.000 đồng.

Lần 10: Khoảng 01 giờ ngày 20/7/2023, H tiếp tục đi đến trạm biến áp Viêm Xá 5, thuộc khu Viêm Xá, phường Hòa Long, cắt trộm được 02 dây cáp điện trung tính CU/XLPE/PVC-1x95 có tổng chiều dài 8m (mỗi dây có chiều dài 4m), có vỏ bọc ngoài màu đen. H cuộn 03 đoạn dây cáp để trên xe môtô, tiếp tục đi đến đến trạm biến áp điện Vệ An 7, thuộc làn 02 đường Thiên Đức, phường Vạn An, thành phố Bắc Ninh tiếp tục cắt trộm được 02 đoạn dây cáp điện trung tính ký hiệu CU/XLPE/PVC-1x150, có chiều dài 8m (mỗi dây có chiều dài 4m), có vỏ bọc ngoài màu đen. Sau đó, H tiếp tục bán lõi cáp đồng cho T1 ngay trong đêm với giá tiền là 180.000 đồng/1kg. T1 cùng H cân số lõi đồng được 14,5kg, T1 trả cho H số tiền 2.600.000 đồng.

Toàn bộ số tiền bán lõi đồng cho T1. H cũng tiêu xài cá nhân hết.

Sau khi T1 mua được số dây cáp đồng do H trộm cắp như nói ở trên, T1 đã bán lại cho 01 người đàn ông thu mua sắt vụn qua đường không quen biết với giá 190.000 đồng/01 kg, T1 được hưởng tiền chênh lệch là 240.000 đồng.

Ngày 23/7/2023, Cơ quan CSĐT Công an thành phố Bắc Ninh ra Lệnh bắt giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Trần Văn H.

Ngày 23/7/2023, Nguyễn Thị T1 đã đến Cơ quan CSĐT Công an thành phố Bắc Ninh đầu thú.

Ngày 25/7/2023 Công ty điện lực thành phố Bắc Ninh có đơn trình báo đến Cơ quan CSĐT Công an thành phố Bắc Ninh về việc Công ty bị trộm cắp dây cáp điện tại 16 trạm biến áp do Công ty quản lý.

Tại bản Kết luận định giá tài sản số 192/KL-HĐĐGTS ngày 27/7/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Bắc Ninh kết luận:

- 01 sợi cáp CU/XLPE/PVC-1x240 (dài 5m) trị giá 3.632.754 đồng

- 01 sợi cáp CU/XLPE/PVC-1x95 (dài 14m) trị giá 4.005.806 đồng

- 01 sợi cáp CU/XLPE/PVC-1x185 (dài 7m) trị giá 3.887.219 đồng

- 01 sợi cáp CU/XLPE/PVC-1x95 (dài 4,5m) trị giá 1.287.580 đồng

- 01 sợi cáp CU/XLPE/PVC-1x95 (dài 4m) trị giá 1.144.516 đồng

- 01 sợi cáp CU/XLPE/PVC-1x95 (dài 4,5m) trị giá 1.287.580 đồng

- 01 sợi cáp CU/XLPE/PVC-1x95 (dài 4,5m) trị giá 1.287.580 đồng

- 01 sợi cáp CU/XLPE/PVC-1x185 (dài 5m) trị giá 2.776.585 đồng

- 01 sợi cáp CU/XLPE/PVC-1x185 (dài 5m) trị giá 2.776.585 đồng

- 01 sợi cáp CU/XLPE/PVC-1x185 (dài 10m) trị giá 5.533.170 đồng

- 01 sợi cáp CU/XLPE/PVC-1x120 (dài 5m) trị giá 1.797.655 đồng

- 01 sợi cáp CU/XLPE/PVC-1x120 (dài 5m) trị giá 1.797.655 đồng

- 01 sợi cáp CU/XLPE/PVC-1x240 (dài 5m) trị giá 3.632.754 đồng

- 01 sợi cáp CU/XLPE/PVC-1x95 (dài 14m) trị giá 4.005.806 đồng

- 01 sợi cáp CU/XLPE/PVC-1x70 (dài 7m) trị giá 1.448.496 đồng

- 03 sợi cáp CU/XLPE/PVC-1x120 (dài 15m) trị giá 5.392.965 đồng

- 01 sợi cáp CU/XLPE/PVC-1x150 (dài 4m) trị giá 1.785.644 đồng

- 02 sợi cáp CU/XLPE/PVC-1x95 (dài 8m) trị giá 2.289.032 đồng.

- 02 sợi cáp CU/XLPE/PVC-1x150 (dài 8m) trị giá 3.571.288 đồng

Tổng giá trị tài sản bị trộm cắp là 53.360.673 đồng.

Với nội dung nêu trên, bản án hình sự sơ thẩm số: 23/2023/HSST ngày 14/11/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh xét xử và tuyên bố Trần Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt Trần Văn H 04 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 23/7/2023.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về tội danh và hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Thị T1, trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 21/11/2023, bị cáo Trần Văn H có đơn kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và thừa nhận bản án sơ thẩm xét xử bị cáo là đúng người, đúng tội. Tuy nhiên bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo vì bị cáo cho rằng mức hình phạt của bản án đã tuyên đối với bị cáo là cao.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh thực hành quyền công tố tại phiên toà, sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, căn cứ vào các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Bị cáo không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Quá trình điều tra truy tố, xét xử vụ án của các cơ quan và người tiến hành tố tụng của cấp sơ thẩm đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, không bị khiếu nại. Sau khi xét xử sơ thẩm, trong thời hạn luật định, bị cáo Trần Văn H có đơn kháng cáo do vậy kháng cáo của bị cáo H là hợp lệ.

Về tội danh, điều luật áp dụng và hình phạt: Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như án sơ thẩm đã quy kết. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa xét xử sơ thẩm và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở kết luận: Do không có nghề nghiệp, không có tiền tiêu xài nên trong khoảng thời gian từ ngày 24/5/2023 đến ngày 20/7/2023, Trần Văn H đã thực hiện 10 vụ cắt trộm dây cáp điện trung tính tại 16 trạm biến áp của Công ty Điện lực thành phố Bắc Ninh quản lý trên địa bàn thành phố Bắc Ninh với tổng giá trị tài sản trộm cắp là 53.360.673 đồng. Do vậy Bản án sơ thẩm xét xử bị cáo phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ, xâm phạm đến trật tự công cộng, gây ảnh hưởng rất xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, đe dọa nghiệm trọng an toàn vận hành của các trạm biến áp, gây nguy cơ sự cố cho lưới điện, thiết bị điện. Vì vậy cần phải xử lý nghiêm bị cáo bằng pháp luật hình sự mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy: Bị cáo có nhân thân xấu và có 01 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học mà tiếp tục phạm tội. Án sơ thẩm đã đánh giá, tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt 04 năm tù mà bản án sơ thẩm đã tuyên đối với bị cáo là phù hợp, không nặng. Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo không đưa ra được căn cứ nào mới để Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt do đó không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.

Về án phí: Do kháng cáo của bị cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật tố tụng Hình sự:

1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Văn H, giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.

Áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Điều 347 Bộ luật tố tụng hình sự. Xử phạt: Trần Văn H 04 (bốn) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 23/7/2023.

Quyết định tạm giam bị cáo 45 (Bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án phúc thẩm để đảm bảo thi hành án.

2. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị tiếp tục có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

3. Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH quy định về án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo Trần Văn H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

Bản án xử phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ