- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trần Thị Minh A + Lê Văn D"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị Minh A.
- Căn cứ chính? Điều 143 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CƯ JÚT TỈNH ĐẮK NÔNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 09/2024/HNGĐ-ST Ngày 02-07-2024 “V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CƯ JÚT, TỈNH ĐẮK NÔNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Bá Luân.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Thuận và bà Phạm Thị Thơm.
- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Thu Uyên - Thư ký Toà án nhân dân huyện Cư Jút.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cư Jút tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Huyền Trâm - Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 07 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Cư Jút, tỉnh Đắk Nông xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân & gia đình thụ lý số: 24/2024/TLST-HN&GĐ, ngày 29 tháng 01 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2024/QĐST-HNGĐ ngày 02 tháng 5 năm 2024; quyết định hoãn phiên tòa số 08/2024/QĐST-HNGĐ ngày 28/05/2024 và quyết định hoãn phiên tòa số 11a/2024/QĐST-HNGĐ ngày 14/06/2024 của Tòa án nhân dân huyện Cư Jút, giữa các đương sự;
Nguyên đơn: Chị Trần Thị Minh A, sinh năm 1999 – có mặt;
Trú tại: Thôn 6, xã T, huyện C, tỉnh Đắk Nông.
Bị đơn: Anh Lê Văn D, sinh năm 1992 – vắng mặt;
Tạm trú: Số 145 Ng, thị trấn E, huyện C, tỉnh Đắk Nông.
Địa chỉ: Thôn 6, xã T, huyện C, tỉnh Đắk Nông.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và tại phiên tòa nguyên đơn trình bày: Chị Trần Thị Minh A và anh Lê Văn D đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện C vào năm 2021. Việc kết hôn hoàn toàn tự nguyện, không ai bị ép buộc. Quá trình chung sống chị A và anh D có với nhau 01 con chung Lê Quang Ph, sinh ngày 03/07/2021. Về mâu thuẫn vợ chồng: Trong cuộc sống vợ chồng không có hòa hợp, hay cãi nhau, dẫn đến xúc phạm nhau. Hiện nay tình cảm vợ chồng không còn, không còn quan tâm chăm sóc nhau, mục đích hôn nhân không đạt được, anh chị đã sống ly thân với nhau. Nay chị A khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị A được ly hôn với anh D.
Về con chung: Con chung Lê Quang Ph, sinh ngày 03/07/2021 còn nhỏ (dưới 03 tuổi) sống với chị A từ khi sinh ra cho đến nay. Nay chị có nguyện vọng được nuôi con chung đến tuổi trưởng thành. Về cấp dưỡng nuôi con chị A không yêu cầu.
Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 14/03/2024 bị đơn trình bày: Anh D và chị A có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện C vào năm 2021. Việc kết hôn hoàn toàn tự nguyện. Quá trình chung sống anh D, chi A có với nhau 01 con chung là Lê Quang Ph, sinh ngày 03/07/2021 hiện con chung đang ở với chị A. Về mâu thuẫn vợ chồng: Anh D và chị A bất đồng quan điểm sống, thỉnh thoảng xảy ra xích mích. Hiện nay anh D vẫn còn tình cảm với chị A. Nếu chị A nhất quyết xin ly hôn thì anh D đồng ý ly hôn với chị A.
Về con chung: Con chung là Lê Quang Ph, sinh ngày 03/07/2021. Anh D có nguyện vọng được nuôi con chung đến tuổi trưởng thành và không yêu cầu chị A cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Anh D không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cư Jút có quan điểm về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, sự tuân theo pháp luật của những người tham gia tố tụng và nội dung vụ án:
- Về tố tụng:
+ Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán từ khi thụ lý vụ án và của Hội đồng xét xử tại phiên tòa đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự.
+ Về người tham gia tố tụng: Nguyên đơn chấp hành đầy đủ quyền, nghĩa vụ của mình. Bị đơn không chấp hành tốt quy định của BLTTDS.
- Về nội dung: Cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Về quan hệ hôn nhân: Chị A được ly hôn với anh D.
Về con chung: Giao con Lê Quang Ph, sinh ngày 03/07/2021 cho chị A trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi). Về cấp dưỡng nuôi con chung chị A không yêu cầu.
Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên không đề cập giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Về tố tụng: Thẩm quyền và quan hệ pháp luật tranh chấp: Chị Trần Thị Minh A yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Cư Jút giải quyết việc ly hôn với anh Lê Văn D, bị đơn cư trú tại huyện Cư Jút nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cư Jút theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng Dân sự. Quan hệ pháp luật là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.
Về chấp hành pháp luật của đương sự: Quá trình giải quyết vụ án Toà án đã tống đạt hợp lệ đúng theo quy định tại Điều 173 Bộ luật Tố tụng dân sự để thông báo thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng khác cho đương sự. Nguyên đơn chấp hành tốt. Bị đơn chấp hành không tốt, mặc dù đã được Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa nhưng bị đơn vắng mặt tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; vắng mặt tại phiên tòa lần thứ nhất không có lý do. Phiên tòa hôm nay bị đơn tiếp tục vắng mặt nên Toà án đã tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc bị đơn không chấp hành pháp luật được coi tự ý từ bỏ quyền được tham gia tố tụng, quyền tự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình quy định tại Điều 6, Điều 72 của BLTTDS.
Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Chị A và anh D kết hôn từ năm 2021 tại UBND xã T, huyện C, tỉnh Đăk Nông, việc kết hôn trên cơ sở tự nguyện. Đây là hôn nhân hợp pháp, kết hôn đúng theo quy định của pháp luật hôn nhân & gia đình.
Xét yêu cầu ly hôn: Năm 2021 chị Anh và anh D kết hôn, tuy nhiên trong cuộc sống vợ chồng không có hạnh phúc, hiện nay tình cảm vợ chồng không còn, không còn quan tâm chăm sóc nhau, mục đích hôn nhân không đạt được, anh chị đã ly thân không còn sống chung với nhau. Chị A và anh D cũng đồng ý được ly hôn với nhau.
Trong quan hệ hôn nhân phải dựa trên tình cảm, tình yêu thương, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ, thực hiện công việc trong gia đình. Tuy nhiên, chị A không còn tình cảm đối với anh Lê Văn D, vợ chồng đã sống ly thân, hôn nhân lâm vào tình trạng mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Hội đồng xét xử thấy yêu cầu ly hôn của chị Anh là có cơ sở nên cần chấp nhận.
Về con chung: Quá trình chung sống chị Anh và anh D có 01 con chung Lê Quang Phú, sinh ngày 03/07/2021. Quá trình giải quyết vụ án cả hai anh chị đều có nguyện vọng được nuôi con chung đến tuổi trưởng thành. HĐXX thấy rằng: Con Lê Quang Ph, sinh ngày 03/07/2021 đến thời điểm xét xử cháu dưới 03 tuổi, hiện nay con đang đang sống chung với chị Anh. Vì vây, HĐXX cần giao con Lê Quang Ph, sinh ngày 03/07/2021 cho chị Anh trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục đến tuổi trưởng thành là phù hợp với quy định tại khoản 3 Điều 81 Luật hôn nhân & gia đình “Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con.”
Về cấp dưỡng nuôi: Chị Anh không yêu cầu giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Xét quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cư Jút kiểm sát việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự và phát biểu quan điểm về đường lối xử lý là phù hợp với quy định của pháp luật.
Về án phí: Nguyên đơn phải chịu toàn bộ tiền án phí theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; Điều 143; Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Áp dụng Điều 51; Điều 53; Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý, sử dụng án phí, lệ phí toà án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị Minh A.
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị Minh A được ly hôn với anh Lê Văn D.
2. Về con chung: Giao con Lê Quang Ph, sinh ngày 03/07/2021 cho chị Trần Thị Minh A được trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi).
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở; người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn được thực hiện theo quy định tại Điều 84 Luật hôn nhân & gia đình.
3. Về cấp dưỡng nuôi con: Không yêu cầu giải quyết.
4. Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên không đề cập giải quyết.
5. Về án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).
Buộc chị Trần Thị Minh A phải chịu toàn bộ, được trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0000272 ngày 26 tháng 01 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cư Jút.
5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
Nơi nhận
| - TAND tỉnh Đắk Nông; - VKSND huyện Cư Jút; - Chi cục THA huyện Cư Jút; - UBND xã T; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán – chủ tọa phiên tòa Nguyễn Bá Luân |