- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án ly hôn giữa Huỳnh Thị Ánh T với Nguyễn Trung H"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Huỳnh Thị Ánh T;
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C TỈNH G | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 09/2024/HNGĐ-ST Ngày 08-5-2024 “V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C, TỈNH G
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nay Lu Vinh.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Siu Thun Phrâo
2. Bà Nguyễn Thị Mừng
- Thư ký phiên tòa: Bà Cao Thị Hiền - Thư ký Toà án nhân dân huyện C, tỉnh G.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh G tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Trí - Kiểm sát viên,
Ngày 08 tháng 5 năm 2024 tại Toà án nhân dân huyện C, tỉnh G, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 136/2023/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 10 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 02 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số: 08/2024/QĐST-HNGĐ ngày 15 tháng 03 năm 2024, và Quyết định hoãn phiên tòa số: 11/2024/QĐST-HNGĐ ngày 09 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Huỳnh Thị Ánh T, sinh năm 1989;
Địa chỉ: Plei Kly Phun, thị trấn Nhơn Hoà, huyện C, tỉnh G; ( Có mặt).
- Bị đơn: Anh Nguyễn Trung H, sinh năm 1987;
Địa chỉ: Plei Kly Phun, thị trấn Nhơn Hoà, huyện C, tỉnh G; (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện, trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn, chị Huỳnh Thị Ánh T trình bày:
- Về hôn nhân: Sau thời gian tìm hiểu, được hai bên gia đình đồng ý, chị và anh Nguyễn Trung H tổ chức đám cưới theo phong tục tập quán, với sự chúc phúc của dòng họ và bạn bè hai bên, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn Nhơn Hòa, huyện C, tỉnh G vào ngày 12/12/2012. Cuộc sống vợ chồng sau khi kết hôn hạnh phúc nhưng thời gian càng về sau thì cả hai nảy sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân do không có tiếng nói chung, tính tình và quan điểm sống không hợp nhau. Chị nhận thấy cuộc sống vợ chồng không thể tiếp tục được nữa, mâu thuẫn không thể hàn gắn, hiện nay chị và hai con chung đã về nhà mẹ đẻ của chị sinh sống, chị và anh H không còn sống chung với nhau. Do đó, chị đề nghị Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh G giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Trung H.
- Về con chung: Chị và anh Nguyễn Trung H có 02 người con chung là cháu Nguyễn Huỳnh Trúc H, sinh ngày 31/10/2013 và cháu Nguyễn Huỳnh Bảo K, sinh ngày 19/01/2016. Chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị nuôi dưỡng hai con chung cho đến khi các con thành niên.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Tại đơn khởi kiện cũng như quá trình làm việc trước đây chị yêu cầu anh Nguyễn Trung H có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000 đồng (1.000.000 đồng/01 con/tháng) để chị nuôi con nhưng tại phiên toà hôm nay chị không yêu cầu anh H phải cấp dưỡng nuôi con cho chị nữa.
- Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Đối với bị đơn anh Nguyễn Trung H: Từ khi thụ lý vụ án cho đến nay, Toà án đã nhiều lần tống đạt hợp lệ: Thông báo thụ lý vụ án, Giấy triệu tập, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa nhưng anh Nguyễn Trung H đều vắng mặt không có lý do. Tại phiên toà hôm nay, anh Nguyễn Trung H tiếp tục vắng mặt, không có bản tự khai, không trình bày ý kiến, không cung cấp tài liệu, chứng cứ gì liên quan đến yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn để Hội đồng xét xử xem xét, giải quyết; mặc dù anh Nguyễn Trung H biết chị Huỳnh Thị Ánh T có đơn khởi kiện xin ly hôn anh tại Tòa án.
Qua xác minh tại địa phương vào ngày 24/10/2023 và tại Công an vào ngày 16/02/2024 thì anh Nguyễn Trung H, chị Huỳnh Thị Anh T có đăng ký hộ khẩu thường trú và sinh sống tại thôn Plei Kly Phun, thị trấn Nhơn Hòa, huyện C, tỉnh G. Tuy nhiên từ năm 2018 chị T và anh H không còn chung sống với nhau nữa, nguyên nhân cụ thể như thế nào địa phương không rõ vì anh chị không báo cáo hay yêu cầu hoà giải gì. Hiện nay chị T và hai con đang sống chung với bố mẹ đẻ anh H còn anh H đi làm ở nơi khác, thỉnh thoảng cuối tuần hoặc ngày lễ tết anh mới trở về, anh đang làm rẫy ở khu vực gần trung tâm y tế huyện C, tỉnh G. Toà án và ban thôn nhiều lần xuống trực tiếp, liên hệ với anh nhưng không được.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của nguyên đơn, bị đơn trong quá trình giải quyết vụ án: kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm HĐXX nghị án về cơ bản là đúng pháp luật.
- Về việc giải quyết vụ án:
Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ theo Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình đề nghị HĐXX xử cho chị Huỳnh Thị Ánh T được ly hôn với anh Nguyễn Trung H
Về con chung: Chị T và anh H có hai con chung, là các cháu Nguyễn Huỳnh Trúc H, sinh ngày 31/10/2013 và Nguyễn Huỳnh Bảo K, sinh ngày 19/01/2016, hiện nay các con chung đang sống cùng chị T, được chị T chăm sóc, nuôi dưỡng đầy đủ. Hơn nữa, xét nguyện vọng của các cháu mong muốn được ở với mẹ.
Căn cứ theo Điều 81, 82, 83, 84 Luật HNGĐ đề nghị HĐXX quyết định giao cháu Nguyễn Huỳnh Trúc H, sinh ngày 31/10/2013 và cháu Nguyễn Huỳnh Bảo K, sinh ngày 19/01/2016 cho chị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng;
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị T không yêu cầu nên miễn xét.
- Về án phí: Căn cứ Điều 147 BLTTDS và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH, buộc chị Huỳnh Thị Ánh T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thủ tục tố tụng:
Chị Huỳnh Thị Ánh T khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết về ly hôn, tranh chấp nuôi con chung với anh Nguyễn Trung H. Anh Nguyễn Trung H có địa chỉ tại thôn Plei Kly Phun, thị trấn Nhơn Hòa, huyện C, tỉnh G, theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, đây là tranh chấp về hôn nhân gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh G. Do đó Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh G thụ lý, giải quyết theo thủ tục sơ thẩm là đúng thẩm quyền.
Về sự vắng mặt của đương sự: Anh Nguyễn Trung H (là bị đơn trong vụ án) đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt anh H.
Về nội dung vụ án:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Huỳnh Thị Ánh T và anh Nguyễn Trung H tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn Nhơn Hòa, huyện C, tỉnh G vào ngày 12/12/2012. Đây là hôn nhân hợp pháp. Cuộc sống vợ chồng hạnh phúc đến năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do hai bên tính cách không hợp nhau, thường xuyên xảy ra cãi vả, anh H hay bài bạc. Vợ chồng đã sống ly thân từ đầu năm 2018 cho đến nay mà không còn liên hệ về tình cảm với nhau nữa. Hội đồng xét xử xét thấy, mặc dù Tòa án triệu tập lấy ý kiến, hòa giải để vợ chồng đoàn tụ, song anh H đều cố tính vắng mặt không có lý do, không có thiện chí trong việc duy trì hạnh phúc gia đình mà phó mặc cho việc giải quyết của Tòa án. Xét thấy, hôn nhân của chị T và anh H đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, yêu cầu khởi kiện của chị T được ly hôn với anh H là có căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình nên được chấp nhận.
Về con chung: Chị Huỳnh Thị Ánh T và anh Nguyễn Trung H có hai con chung là cháu Nguyễn Huỳnh Trúc H, sinh ngày 31/10/2013 và cháu Nguyễn Huỳnh Bảo K, sinh ngày 19/01/2016. Hiện hai cháu đang sống cùng với chị T. Khi ly hôn chị T đề nghị được nuôi dưỡng con chung, chị không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con.
Xét yêu cầu nuôi con chung của chị T: Hội đồng xét xử thấy rằng hiện nay anh H và chị T đã sống ly thân, hai con do chị T đang trực tiếp nuôi dưỡng và chăm sóc, các cháu phát triển bình thường, được đi học đầy đủ. Mặt khác, hai cháu đều có nguyện vọng muốn ở cùng với mẹ. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình. Chấp nhận yêu cầu của chị T về nuôi con chung. Giao cho chị T là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là cháu Nguyễn Huỳnh Trúc H, sinh ngày 31/10/2013 và cháu Nguyễn Huỳnh Bảo K, sinh ngày 19/01/2016 đến khi hai con chung đủ 18 tuổi và sống tụ lập được hoặc đến khi có sự thay đổi theo quy định pháp luật là phù hợp điều kiện thực tế và nguyện vọng của con chung.
Sau khi ly hôn anh H có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở anh H thực hiện quyền này. Trường hợp anh H có nguyện vọng nuôi con chung hoặc vì quyền lợi chính đáng của con chung, các đương sự có quyền khởi kiện yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn bằng vụ án khác theo quy định tại Điều 84 Luật hôn nhân gia đình.
. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Tại phiên toà hôm nay chị T thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện đó là chị không yêu cầu anh H phải cấp dưỡng nuôi con cho chị nữa, nên Hội đồng xét xử không xem xét về yêu cầu cấp dưỡng của Chị T.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị Huỳnh Thị Ánh T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí sơ thẩm: Căn cứ Điều 147 BLTTDS và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH, buộc chị Huỳnh Thị Ánh T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.0000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 266, 271 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Áp dụng khoản 1 Điều 56, Điều 57, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Huỳnh Thị Ánh T;
1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Huỳnh Thị Ánh T được ly hôn anh Nguyễn Trung H.
2. Về con chung: Giao hai con chung là cháu Nguyễn Huỳnh Trúc H, sinh ngày 31/10/2013 và cháu Nguyễn Huỳnh Bảo K, sinh ngày 19/01/2016 cho chị Huỳnh Thị Ánh T trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng cho đến khi các con thành niên hoặc đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi.
Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định của pháp luật, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc việc cấp dưỡng nuôi con.
3. Về án phí: Chị Huỳnh Thị Ánh T phải chịu 300.000 đồng tiền án phí sơ thẩm được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng đã nộp theo biên lai số 0001465 ngày 23/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện C, tỉnh G.
4. Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại điều 6, điều 7, 7a, 7b và điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh G; - VKSND huyện C; - Chi cục THADS huyện C; - UBND thị trấn Nhơn Hoà ( năm 2012); - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án, án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nay Lu Vinh |