- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn, nuôi con giữa chị D và anh D1"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Kim Thị D.
- Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦU NGANG TỈNH TRÀ VINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 09/2024/HNGĐ-ST Ngày: 04-01-2024 “V/v ly hôn và tranh chấp nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦU NGANG TỈNH TRÀ VINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Thoa
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Huỳnh Văn Đương
2. Ông Nguyễn Bỉnh Khiêm
Thư ký phiên tòa: Bà Diệp Thị Vân Khoa là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Ông Lý Phước Bền, Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 01 năm 2024 tại Tòa án nhân dân huyện Cầu Ngang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 102/2023/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 11 năm 2023 về việc “Ly hôn và tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 44/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 18/12/2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Kim Thị D, sinh năm 1992. Địa chỉ: Ấp T, xã K, huyện C, tỉnh Trà Vinh (có mặt).
- Bị đơn: Anh Trần Thanh D1, sinh năm 1983. Địa chỉ: Ấp T, xã K, huyện C, tỉnh Trà Vinh (có đơn xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 03/11/2023, các lời khai cũng như tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn Kim Thị D trình bày và có yêu cầu như sau:
- Về hôn nhân: Vào năm 2005 chị D và anh D1 tự nguyện xác lập quan hệ hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại UBND xã K, huyện C, tỉnh Trà Vinh. Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn cải vả do anh D1 thay đổi tính tính không chăm lo cho gia đình, hay uống rượu vô cớ có lời lẻ xúc phạm và đánh chị, chị nhiều lần khuyên, nhiều lần tạo điều kiện hàn gắn nhưng tính tình anh D1 không thay đổi, đến nay tình cảm vợ chồng không hòa thuận được, cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc, vì vậy chị yêu cầu ly hôn với anh Trần Thanh D1.
- Về nuôi con tên Trần Diểm N, sinh ngày 08/3/2009, Trần Tuấn K, sinh ngày 03/9/2012 và Trần Tuấn V, sinh ngày 16/02/2017 chị D yêu cầu được nuôi các con.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Chị D không tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản và nợ chung: Chị D không tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Chị D không có yêu cầu nào khác.
Bị đơn Trần Thanh D1 vắng mặt tại phiên tòa, có đơn xin xét xử vắng mặt. Tuy nhiên, quá trình giải quyết anh D1 có lời khai như sau:
- Về hôn nhân giữa anh và chị D chung sống có đăng ký kết hôn theo quy định, trong cuộc sống vợ chồng có mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, không hòa thuận được, đã ly thân, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc nên anh đồng ý ly hôn với chị D.
- Về nuôi con tên Trần Diểm N, sinh ngày 08/3/2009, Trần Tuấn K, sinh ngày 03/9/2012 và Trần Tuấn V, sinh ngày 16/02/2017, anh đồng ý để chị D nuôi con, anh không tranh chấp.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Anh D1 không tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản và nợ chung: Anh D1 không tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Anh D1 không còn tranh chấp khác.
Lời phát biểu của Kiểm sát viên:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự: Về thủ tục thụ lý hồ sơ vụ án, xác định quan hệ pháp luật, xác định người tham gia tố tụng, thành phần phiên họp, thành phần hòa giải và thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm đều thực hiện đúng quy định pháp luật. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng trình tự thủ tục pháp luật quy định. Các văn bản tố tụng từ khi nhận đơn cho đến khi có Quyết định đưa vụ án ra xét xử đều tống đạt đầy đủ, hợp lệ cho các đương sự và xét thấy bị đơn chưa thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định pháp luật.
- Về giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 51, 56, 81 của Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, xử cho chị Kim Thị D được ly hôn với anh Trần Thanh D1. Về con chung đề nghị giao chị D được nuôi các con tên Trần Diểm N, sinh ngày 08/3/2009, Trần Tuấn K, sinh ngày 03/9/2012 và Trần Tuấn V, sinh ngày 16/02/2017 theo nguyện vọng của cháu N, cháu T, cũng như theo yêu cầu của chị D; Về cấp dưỡng nuôi con và tài sản chung, nợ chung các đương sự không tranh chấp nên không đề nghị xem xét. Về án phí hôn nhân sơ thẩm căn cứ Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, đề nghị buộc chị D phải nộp theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Xét thấy anh Trần Thanh D1 có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ vào khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh D1.
Về quan hệ pháp luật: Xét đơn của chị Kim Thị D khởi kiện yêu cầu ly hôn, tranh chấp nuôi con chung đối với anh Trần Thanh D1, sinh năm 1983. Địa chỉ: Ấp T, xã K, huyện C, tỉnh Trà Vinh. Căn cứ khoản 1 Điều 28, 35, 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, xác định quan hệ pháp luật giải quyết là “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. [3] Về hôn nhân: Xét thấy chị Kim Thị D và anh Trần Thanh D1 chung sống có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật. Căn cứ vào Điều 8, 9 của Luật hôn nhân và gia đình xác định hôn nhân của chị D và anh D1 là hợp pháp.
Trong thời gian chung sống giữa chị D và anh D1 phát sinh mâu thuẫn bất đồng quan điểm không hoà thuận được nên chị D yêu cầu ly hôn với anh D1. Quá trình giải quyết nhiều lần Tòa án mở phiên hòa giải tạo điều kiện hàn gắn hôn nhân giữa chị D và anh D1 nhưng anh D1 không đến tham dự phiên hòa giải; anh D1 nộp văn bản ý kiến thừa nhận trong cuộc sống vợ chồng có mâu thuẫn không tin tưởng nhau dẫn đến cải vả, không hàn gắn được nên đồng ý ly hôn với chị D.
Xét thấy, cuộc sống hôn nhân giữa chị D và anh D1 khi mâu thuẫn xảy ra mỗi người có cuộc sống riêng, không bên nào tìm cách hòa giải hàn gắn lại, không còn quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau. Chị D và anh D1 xác định tình cảm vợ chồng không còn hạnh phúc, không hàn gắn được nên anh D1 đồng ý ly hôn. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn giữa chị D và anh D1 ngày càng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào Điều 51, 56 của Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Kim Thị D.
Về con chung tên: Trần Diểm N, sinh ngày 08/3/2009, Trần Tuấn K, sinh ngày 03/9/2012 và Trần Tuấn V, sinh ngày 16/02/2017.
Chị D yêu cầu được nuôi các con và quá trình giải quyết các con tên Trần Diểm N và Trần Tuấn K có nguyện vọng sống chung với chị D. Anh D1 đồng ý để chị D nuôi các con, anh không đặt ra tranh chấp nuôi con.
Do đó, Hội đồng xét xử, căn cứ vào Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình, giao các con tên Trần Diểm N, Trần Tuấn K và Trần Tuấn V cho chị D được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục nuôi dưỡng các con sau khi ly hôn là đảm bảo cuộc sống của con và phù hợp với quy định của pháp luật.
Về cấp dưỡng nuôi con: Trong quá trình giải quyết vụ án chị D và anh D1 không tranh chấp, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.
Về tài sản chung và số nợ phải thu, phải trả: Trong quá trình giải quyết vụ án chị D và anh D1 không tranh chấp, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.
Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Căn cứ quy định tại Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, buộc chị Kim Thị D phải nộp 300.000 đồng theo quy định pháp luật.
Xét lời phát biểu của Kiểm sát viên về trình tự, thủ tục tố tụng và quan điểm giải quyết vụ án là phù hợp nhận định Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 235, 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;
Căn cứ các Điều 51, 53, 56, 57, 58, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình.
Căn cứ khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Kim Thị D.
- Về hôn nhân: Xử cho chị Kim Thị D được ly hôn với anh Trần Thanh D1.
- Về nuôi con chung: Giao chị Kim Thị D được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng con chung tên Trần Diểm N, sinh ngày 08/3/2009, Trần Tuấn K, sinh ngày 03/9/2012 và Trần Tuấn V, sinh ngày 16/02/2017.
Anh Trần Thanh D1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được quyền ngăn cản. Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Chị D và anh D1 không tranh chấp, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về tài sản chung và số nợ phải thu, phải trả: Trong quá trình giải quyết vụ án chị D và anh D1 không tranh chấp, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.
- Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Chị Kim Thị D phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0019174 ngày 03/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cầu Ngang. Chị D đã nộp đủ.
- Về quyền kháng cáo: Chị Kim Thị D có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Trần Thanh D1 vắng mặt tại phiên toà nên có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết công khai theo quy định.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.
| Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM - TAND tỉnh Trà Vinh; - VKSND huyện Cầu Ngang; - CCTHADS huyện Cầu Ngang; - UBND xã Kim Hoà; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ. | Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Kim Thoa |