vanban.org

Bản án 09/2024/DS-ST — Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường — án dân sự — "Phan Thị A - Nguyễn Trần Tuyết Nh"
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Nghị định số 19/2019/NĐ-CP Về họ, hụi, biêu, phường; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN DẦU TIẾNG
TỈNH BÌNH DƢƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 09/2024/DS-ST
Ngày: 31-01-2024
V/v tranh chấp tiền hụi

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DẦU TIẾNG

TỈNH BÌNH DƢƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Long Tỵ

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trương Hữu Bình;

2. Ông Đinh Quang Minh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Linh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Bình - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 456/2023/TLST-DS ngày 06 tháng 10 năm 2023 về việc “tranh chấp tiền hụi”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 14/2024/QĐXXST-DS ngày 16 tháng 01 năm 2024, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Phan Thị A, sinh năm 1959; hộ khẩu thường trú: Xóm M, xã Thanh A1, huyện Dầu T, tỉnh Bình D.

2. Bị đơn: Bà Nguyễn Trần Tuyết Nh, sinh năm 1990; hộ khẩu thường trú: Ấp Xóm M, xã Thanh A1, huyện Dầu T, tỉnh Bình D.

Nguyên đơn (bà A), bị đơn (bà Nh) có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện ngày 03 tháng 10 năm 2023, bản tự khai ngày 03 tháng 10 năm 2023, trong quá trình tham gia tố tụng và tại phiên tòa, nguyên đơn (bà A) trình bày: Bà A là chủ hụi, bà Nh là hụi viên, bà Nh tham gia chơi ba dây hụi của bà A cụ thể:

+ Dây hụi thứ nhất: Mở vào ngày 18/12/2021, bà Nh tham gia và đã hốt phần hụi 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng), bà Nh phải đóng lại số tiền hụi chết là 9.600.000 đồng (chín triệu sáu trăm ngàn đồng) dây hụi này kết thúc ngày 30/6/2022.

+ Dây hụi thứ hai: Mở vào ngày 23/12/2021, bà Nh tham gia và đã hốt phần hụi 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng), bà Nh phải đóng lại số tiền hụi chết là 24.300.000 đồng (hai mươi bốn triệu ba trăm ngàn đồng) dây hụi này kết thúc ngày 30/6/2022.

+ Dây hụi thứ ba: Mở vào ngày 30/12/2021, bà Nh tham gia và đã hốt phần hụi 500.000 đồng (năm trăm ngàn đồng), bà Nh phải đóng lại số tiền hụi chết là 11.500.000 đồng (mười một triệu năm trăm ngàn đồng) dây hụi này kết thúc ngày 30/8/2022. Tổng số tiền ba dây hụi bà Nh phải đóng cho bà A là 45.400.000 đồng (bốn mươi lăm triệu bốn trăm ngàn đồng). Hiện nay, ba dây hụi mãn đã lâu nhưng bà Nh vẫn không đóng các khoản hụi chết nêu trên cho bà A. Vì vậy, bà A làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Nh có trách nhiệm trả số tiền hụi còn nợ cho bà A là 45.400.000 đồng (bốn mươi lăm triệu bốn trăm ngàn đồng), bà A không yêu cầu tính lãi suất.

- Chứng cứ nguyên đơn (bà A) cung cấp gồm: Đơn khởi kiện, bản tự khai, giấy giao hụi ngày 18/12/2021, giấy nhận hụi ngày 23/12/2021, giấy giao hụi ngày 30/12/2021. Ngoài ra, nguyên đơn (bà A) không cung cấp chứng cứ và không có ý kiến, yêu cầu gì khác.

* Bản tự khai ngày 16 tháng 01 năm 2024, trong quá trình tham gia tố tụng và tại phiên tòa, bị đơn (bà Nh) trình bày: Đối với dây hụi thứ nhất ngày 18/12/2021, bà A trình bày là đúng với số tiền 9.600.000 đồng (chín triệu sáu trăm ngàn đồng) bà Nh đã hốt nhưng không đúng ngày, dây hụi này bà Nh hốt vào ngày 18/12/2022; đối với dây hụi thứ hai ngày 23/12/2021 với số tiền 24.300.000 đồng (hai mươi bốn triệu ba trăm ngàn đồng) là không đúng, dây hụi này bà Nh đã chơi rất lâu và hụi đã mãn xong (bà Nh mới chơi tiếp dây hụi mới); đối với dây hụi thứ ba, bà Nh cũng không có hốt hụi số tiền 11.500.000 đồng (mười một triệu năm trăm ngàn đồng), cũng như bà Nh không có ký bất cứ giấy nợ nào. Do đó, trước yêu cầu khởi kiện của bá A đối với số tiền của ba dây hụi là 45.400.000 đồng (bốn mươi lăm triệu bốn trăm ngàn đồng) thì bà Nh không đồng ý toàn bộ. Bà Nh thừa nhận chữ ký tên, chữ viết họ và tên Nguyễn Trần Tuyết Nh trong giấy nhận hụi ngày 18/12/2021; giấy giao hụi ngày 23/12/2021; giấy giao hụi ngày 30/12/2021 là chữ ký tên, chữ viết họ và tên của bà Nh nên bà Nh không yêu cầu Tòa án trương cầu giám định đối với chữ ký tên, chữ viết họ và tên của bà Nh.

- Chứng cứ bị đơn (bà Nh) cung cấp gồm: Bản tự khai ngày 16/01/2024, tại phiên tòa bà Nh cung cấp chứng cứ gồm hai giấy ghi tiền hụi. Ngoài ra, bị đơn (bà Nh) không cung cấp chứng cứ và không có ý kiến, yêu cầu gì khác.

* Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên:

- Việc tuân theo pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử: Thẩm phán được phân công thụ lý và giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký tại phiên tòa: Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án.

- Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Quan hệ pháp luật của vụ án là “tranh chấp tiền hụi”. Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ và kết quả tranh luận tại phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với bị đơn. Buộc bị đơn thanh toán cho nguyên đơn số tiền 45.400.000 đồng (bốn mươi lăm triệu bốn trăm ngàn đồng).

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Từ những tài liệu chứng cứ đã thu thập có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thẩm quyền giải quyết: Đây là tranh chấp tiền hụi theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố Tụng dân sự. Bị đơn hiện đang cư trú tại ấp Xóm M, xã Thanh A1, huyện Dầu T, tỉnh Bình D nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương theo quy định tại khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung tranh chấp: Nguyên đơn có dựng hụi và làm chủ hụi, bị đơn là hụi viên. Căn cứ chứng cứ nguyên đơn cung cấp gồm giấy giao hụi ngày 18/12/2021, giấy nhận hụi ngày 23/12/2021, giấy giao hụi ngày 30/12/2021 đã thể hiện bị đơn có tham gia chơi hụi do nguyên đơn làm chủ hụi theo các chứng cứ nêu trên thì bị đơn đã hốt ba dây hụi sống nêu trên và số tiền bị đơn phải đóng cho nguyên đơn của ba dây hụi nêu trên cụ thể; giấy giao hụi ngày 18/12/2021 bị đơn còn phải đóng hụi chết cho nguyên đơn số tiền 9.600.000 đồng (chín triệu sáu trăm ngàn đồng); giấy nhận hụi ngày 23/12/2021 bị đơn còn phải đóng hụi chết cho nguyên đơn số tiền 24.300.000 đồng (hai mươi bốn triệu ba trăm ngàn); giấy giao hụi ngày 30/12/2021 bị đơn còn phải đóng hụi chết cho nguyên đơn số tiền 11.500.000 đồng (mười một triệu năm trăm ngàn). Tổng số tiền hụi bị đơn phải đóng cho nguyên đơn là 45.400.000 đồng (bốn mươi lăm triệu bốn trăm ngàn đồng) nhưng đến nay bị đơn vẫn không đóng hụi chết cho nguyên đơn nên phát sinh tranh chấp.

Nguyên đơn cung cấp chứng cứ chứng minh là giấy giao hụi ngày 18/12/2021, giấy nhận hụi ngày 23/12/2021, giấy giao hụi ngày 30/12/2021 đều có chữ ký tên, chữ viết họ và tên của bị đơn. Đồng thời, bị đơn cũng đã thừa nhận đó là chữ ký tên, chữ viết họ và tên của bị đơn. Vì vậy, đây là tình tiết không cần phải chứng minh theo quy định tại khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự. Do đó, có cơ sở khẳng định chứng cứ mà nguyên đơn cung cấp là có giá trị chứng minh. Vì vậy, nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán số tiền hụi còn nợ là 45.400.000 đồng (bốn mươi lăm triệu bốn trăm ngàn đồng) cho nguyên đơn là có cơ sở chấp nhận. Đối với ý kiến trình bày của bị đơn cho rằng chỉ thừa nhận dây hụi thứ nhất ngày 18/12/2021 thì bị đơn thừa nhận là đúng với số tiền 9.600.000 đồng (chín triệu sáu trăm ngàn đồng) nhưng ngày hốt hụi thì không đúng, nhưng bị đơn hốt dây hụi này vào ngày 18/12/2022 chứ không phải ngày 18/12/2021 như nguyên đơn trình bày, dây hụi thứ hai ngày 23/12/2021 thì không đúng số tiền 24.300.000 đồng (hai mươi bốn triệu ba trăm ngàn đồng) dây hụi này bị đơn đã hốt hụi rất lâu và dây hụi này cũng mãn, dây hụi thứ ba ngày 30/10/2021 thì đơn không thừa nhận có hốt hụi số tiền 11.500.000 đồng (mười một triệu năm trăm ngàn đồng) nhưng tại biên bản hòa giải ngày 16/01/2024 và tại phiên tòa, bị đơn thừa nhận chữ ký tên, chữ viết họ và tên của bị đơn trong giấy giao hụi ngày 30/12/2021 là của bị đơn. Đồng thời, tại phiên tòa bị đơn cung cấp chứng cứ là hai giấy ghi tiền hụi mà bị đơn cho rằng đó là chứng cứ thể hiện bị đơn đã đóng tiền hụi chết cho nguyên đơn. Do đó, trước yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì bị đơn không đồng ý. Tại phiên tòa, nguyên đơn cho rằng các khoản tiền nợ hụi mà nguyên đơn liệt kê trong hai chứng cứ mà bị đơn cung cấp tại phiên tòa để nguyên đơn giao cho mẹ ruột bị đơn để mẹ bị đơn đưa lại cho bị đơn đóng các khoản tiền hụi chết còn lại cho nguyên đơn chứ nguyên đơn không thu tiền hụi chết của bị đơn theo hai chứng cứ nêu. Đồng thời, ngày 29/12/2023, Tòa án cũng ban hành Quyết định yêu cầu cung cấp tài liệu, chứng cứ số 41/2023/QĐ-CCTLCC đối với bị đơn và cũng đã tống đạt cho bị đơn ngày 29/12/2023 nhưng đến nay tại phiên tòa bị đơn chỉ giao nộp được hai chứng cứ nêu trên cho Hội đồng xét xử. Qua xem xét, đánh giá hai chứng cứ mà bị đơn cung cấp tại phiên tòa Hội đồng xét xử xét thấy chứng cứ này không có giá trị chứng minh việc bị đơn đã đóng hết số tiền hụi chết của ba dây hụi nêu trên cho nguyên đơn. Vì vậy, không có cơ sở chấp nhận ý kiến của bị đơn.

Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với bị đơn là có căn cứ cần buộc bị đơn phải thanh toán cho nguyên đơn số tiền 45.400.000 đồng (bốn mươi lăm triệu bốn trăm ngàn đồng) là đúng quy định của pháp luật.

Hội đồng xét xử xét thấy: Chứng cứ nguyên đơn cung cấp là giấy giao hụi ngày 18/12/2021, giấy nhận hụi ngày 23/12/2021, giấy giao hụi ngày 30/12/2021 đều có chữ ký tên, chữ viết họ và tên của bị đơn thể hiện nguyên đơn có làm chủ các dây hụi mà bị đơn tham gia. Sau nhiều lần nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán số tiền hụi còn nợ cho nguyên đơn nhưng bị đơn không thanh toán cho nguyên đơn. Vì vậy, nguyên đơn khởi kiện bị đơn yêu cầu bị đơn trả số tiền hụi còn nợ của nguyên đơn là 45.400.000 đồng (bốn mươi lăm triệu bốn trăm đồng) là phù hợp Điều 471 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn (bà Nh) phải chịu án phí đối với số tiền phải trả cho nguyên đơn (bà A).

Xét ý kiến của đại diện Viện kiểm sát: Là có căn cứ nên Hội đồng xét

xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 26, 35, 39, 147, 235, 266, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Căn cứ Điều 471 Bộ luật dân sự năm 2015; Căn cứ Nghị định số: 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ về Họ, Hụi, Biêu, Phường; Điều 471 Bộ luật Dân sự năm 2015; Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của y ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

* Tuyên xử:

1/ Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện “tranh chấp tiền hụi” của nguyên đơn bà Phan Thị A đối với bị đơn bà Nguyễn Trần Tuyết Nh.

Buộc bà Nguyễn Trần Tuyết Nh có trách nhiệm thanh toán cho bà Phan Thị A số tiền 45.400.000 đồng (bốn mươi lăm triệu bốn trăm ngàn đồng).

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (ngày 31/01/2024) cho đến khi thi hành án xong, kể từ ngày bà Phan Thị A có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bà Nguyễn Trần Tuyết Nh không thanh toán số tiền trên, thì hàng tháng bà Nguyễn Trần Tuyết Nh còn phải chịu tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chưa thi hành án.

2/ Án phí dân sự sơ thẩm:

- Buộc bà Nguyễn Trần Tuyết Nh phải nộp số tiền 2.270.000 đồng (hai triệu hai trăm bảy mươi ngàn đồng).

Trường hợp Bản án được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Các đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án (ngày 31/01/2024).

Cỡ chữ