vanban.org

Bản án 09/2023/QĐ-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Buộc ông Trần Ngọc V trả cho bà Nguyễn Thị S số tiền 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng chẵn). Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "bà S yêu cầu ông V trả nợ"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NGHĨA HÀNH
TỈNH QUẢNG NGÃI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 09/2023/ DS - ST
Ngày: 27 - 4 - 2023
Vv tranh chấp về hợp đồng
vay tài sản.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHĨA HÀNH, TỈNH QUẢNG NGÃI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có :

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Chí Ngãi.

Các Hội thẩm nhân dân:.

1. Ông Huỳnh Tấn Thương;

2. Ông Nguyễn Tẩn.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Ngọc Anh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Hành, tỉnh Quảng Ngãi.

Ngày 27 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 15/2022/TLST-DS, ngày 17 tháng 11 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 35/2023/QĐXXST-DS, ngày 17 tháng 3 năm 2023; Quyết định hoãn phiên tòa số 05/2023/QĐST-DS ngày 11 tháng 4 năm 2023, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị S, sinh năm 1956.

Địa chỉ: Thôn Nhơn Lộc 2, xã Hành Tín Đông, huyện Nghĩa Hành, tỉnh Quảng Ngãi.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Bà Hồng Thị T - Trợ giúp viên của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Quảng Ngãi (theo Quyết định số: 433/QĐ- TGPL, ngày 07/12/2022 của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Quảng Ngãi).

Địa chỉ: 108 đường Phan Đình Phùng, thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi.

2. Bị đơn: Ông Trần Ngọc V, sinh năm 1974.

Địa chỉ: Thôn Xuân Hòa, xã Hành Tín Đông, huyện Nghĩa Hành, tỉnh Quảng Ngãi.

(Nguyên đơn và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn có mặt; bị đơn vắng mặt không có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 03/10/2022 các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn, bà Nguyễn Thị Sáu trình bày:

Ngày 23/9/2020 tức 07/8/2020 (AL), bà Nguyễn Thị S có cho ông Trần Ngọc V vay 5.000.000 đồng; mục đích tiêu dùng, không tính lãi và không xác định thời hạn trả.

Vì thường xuyên đau ốm, kinh tế khó khăn nên bà S có hỏi nợ ông V nhiều lần nhưng ông V không trả số tiền nợ này cho bà.

Nay yêu cầu Tòa giải quyết: Buộc ông Trần Ngọc V trả cho bà số tiền 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng chẵn). Không yêu cầu tính lãi.

Bị đơn không có văn bản trình bày:

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn đề ngày 03/10/2022 các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận định đây là vụ án “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án được quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự. Do đó, Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Hành thụ lý giải quyết vụ án là đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Bị đơn đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng không có văn bản trình bày ý kiến cũng như vắng mặt không có lý do trong hai lần mở phiên tòa. Căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là phù hợp.

Về nội dung:

Xét yêu cầu của nguyên đơn thấy rằng:

Theo giấy mượn tiền đề ngày 23/9/2020 (nhằm ngày 07/8/2020 âm lịch), bà Nguyễn Thị S có cho ông Trần Ngọc V vay 5.000.000 đồng; mục đích tiêu dùng trong gia đình, không tính lãi và không xác định thời hạn trả; đây là hợp đồng vay không kỳ hạn và không có lãi. Tại khoản 01 Điều 469 Bộ luật Dân sự quy định cụ thể như sau: “Đối với hợp đồng vay không kỳ hạn và không có lãi thì bên cho vay có quyền đòi lại tài sản và bên vay cũng có quyền trả nợ vào bất cứ lúc nào, nhưng phải báo cho nhau biết trước một thời gian hợp lý, trừ trường hợp có thỏa thuận khác”.

Sau khi cho ông V vay tiền, vì thường xuyên đau ốm, kinh tế khó khăn; bà Sáu có hỏi nợ ông V nhiều lần nhưng ông V không trả số tiền nợ này cho bà; như vậy, ông V đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ trong hợp đồng. Việc bà S yêu cầu Tòa giải quyết: Buộc ông Trần Ngọc V trả cho bà số tiền 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng chẵn) và không yêu cầu tính lãi là có cơ sở chấp nhận.

Tại phiên tòa; người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm theo điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội

Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật tại Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 147; khoản 02 Điều 227; Điều 228; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 275, Điều 357, Điều 463, Điều 466, Điều 469 của Bộ luật dân sự; Điều 26 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Buộc ông Trần Ngọc V trả cho bà Nguyễn Thị S số tiền 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng chẵn).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357; Điều 468 của Bộ Luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Ông Trần Ngọc V phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm, sung vào ngân sách Nhà nước.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Cỡ chữ