vanban.org

Bản án 09/2023/KDTM-ST — Tranh chấp về mua bán hàng hóa

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Công nhận sự thỏa thuận của nguyên đơn Tổng Công ty Điện lực miền Nam và HTXNN PT về việc thanh toán nợ tiền điện.

Buộc HTXNN PT có trách nhiệm trả cho Tổng Công ty Điện lực miền Nam nợ tiền điện tổng cộng là 320.886.650 đồng (Ba trăm hai mươi triệu tám trăm tám mươi sáu nghìn sáu trăm năm mươi đồng), trong đó bao gồm: Tiền nợ gốc: 263.379.681 đồng (Hai trăm sáu mươi ba triệu ba trăm bảy mươi chín nghìn sáu trăm… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về mua bán hàng hóa — án kinh doanh thương mại — "Điện lực - HTX Phú Thuận"
  • Tòa quyết gì? Công nhận sự thỏa thuận của nguyên đơn Tổng Công ty Điện lực miền Nam và HTXNN PT về việc thanh toán nợ tiền điện.
  • Căn cứ chính? Điều 11 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…; Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHÂU PHÚ
TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 09/2023/KDTM-ST
Ngày: 28 - 9 - 2023
V/v Tranh chấp hợp đồng
mua bán hàng hóa (điện)

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Linh.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lý Khắc Chung - ông Đoàn Văn Hiển.

- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thái Trân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Phú.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Kim Trang – Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 9 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Phú, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 16/2021/TLST-KDTM ngày 16 tháng 12 năm 2021 về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa (điện)” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 542/2023/QĐXXST-KDTM ngày 28 tháng 8 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 595/2023/QĐST-KDTM ngày 13 tháng 9 năm 2023, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Tổng Công ty Điện lực miền Nam – TNHH (gọi tắt là Tổng Công ty Điện lực miền Nam); địa chỉ trụ sở: Số 72 Hai Bà Trưng, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh. Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Phước Đức, chức vụ: Tổng Giám đốc.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Đặng Hữu Thiện, chức vụ: Giám đốc Điện lực Châu Phú thuộc Công ty Điện lực An Giang, theo giấy ủy quyền số: 9592/UQ-EVN SPC ngày 22/11/2019 của Tổng giám đốc Tổng Công ty Điện lực miền Nam (có mặt)

2. Bị đơn: Hợp tác xã Nông nghiệp (HTXNN) PT; địa chỉ: Ấp MH, xã MP, huyện CP, tỉnh AG.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1970, địa chỉ: Ấp MH, xã MP, huyện CP, tỉnh AG, chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị (vắng mặt)

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Hùng D, sinh năm 1970, chức vụ: Giám đốc Hợp tác xã, địa chỉ: Ấp MH, xã MP, huyện CP, tỉnh AG, theo hợp đồng ủy quyền ngày 19/9/2023 của ông Nguyễn Văn H (có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 27/11/2019, Đơn khởi kiện sửa đổi, bổ sung ngày 17/6/2021 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, Tổng Công ty Điện lực miền Nam trình bày:

Tổng Công ty Điện lực miền Nam cung cấp điện cho HTXNN PT trên cơ sở các hợp đồng mua bán điện đã ký kết giữa Điện lực Châu Phú và HTXNN PT. Do HTXNN PT không trả nợ tiền điện, vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng mua bán điện đã ký kết nên Điện lực Châu Phú đã ngừng cung cấp điện vào ngày 09/10/2018 và chốt chỉ số điện đối với HTXNN PT. Lúc này Ủy ban nhân dân (UBND) xã Mỹ Phú tiến hành làm việc với HTXNN PT và Điện lực Châu Phú, yêu cầu Điện lực Châu Phú tiếp tục đóng điện (cung cấp điện) để phục vụ nhu cầu sản xuất nông nghiệp, chống ngập úng trong mùa mưa lũ. HTXNN PT thống nhất chịu trách nhiệm trả toàn bộ nợ tiền điện phát sinh nên ngày 30/10/2018 ông Nguyễn Hùng D đại diện HTXNN PT ký xác nhận nợ số tiền 614.666.521 đồng. Đến ngày 28/11/2018, phát sinh thêm nợ tiền điện là 192.493.537 đồng nên tổng nợ tiền điện đến ngày 28/11/2018 là 807.160.058 đồng.

Ngày 29/11/2018, HTXNN PT chuyển trả 276.615.000 đồng, trong đó đủ thanh toán các hóa đơn số tiền 276.307.377 đồng và đưa vào tạm ứng 307.623 đồng (do số tiền 307.623 đồng không đủ thanh toán 01 hóa đơn). Do đó, vào ngày 03/12/2018, Điện lực Châu Phú tiến hành làm việc với HTXNN PT với sự chứng kiến của Phòng Kinh tế - Hạ tầng huyện Châu Phú, lúc này ông D đại diện HTXNN PT xác nhận còn nợ tiền điện 530.852.681 đồng. Số tiền này là nợ tiền điện chốt chỉ số tính đến ngày 28/11/2018.

Sau đó, HTXNN PT ngưng hoạt động, chuyển giao các tài sản cố định và vùng hoạt động cho HTXNN Tân PT để tiếp tục phục vụ nhu cầu sản xuất trên địa bàn. Do đó, Tổng Công ty Điện lực miền Nam yêu cầu Tòa án giải quyết như sau:

- Buộc HTXNN PT phải thanh toán nợ tiền điện cho Tổng Công ty Điện lực miền Nam số tiền 530.852.681 đồng.

- Buộc HTXNN PT thanh toán tiền lãi chậm trả hàng tháng trên số tiền nợ gốc chưa trả theo từng hóa đơn cho bên bán điện theo quy định của pháp luật. Thời gian tính lãi được tính sau 07 ngày kể từ ngày phát hành hóa đơn. Tiền lãi được tính bằng số tiền chậm trả nhân với mức lãi suất cho vay cao nhất của Ngân hàng mà bên A có tài khoản tại thời điểm thanh toán và nhân với số ngày chậm trả, tính từ ngày bên B phải thanh toán đến ngày bên B thanh toán.

Tại bản tự khai ngày 03/11/2020 và phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải ngày 12/7/2023, ông Nguyễn Văn H trình bày:

HTXNN PT thành lập kể từ năm 2003 để phục vụ tưới, tiêu nông nghiệp lúa 03 vụ thuộc địa bàn xã Mỹ Phú, huyện Châu Phú. Ông Hoàng là Chủ tịch Hội đồng quản trị, còn ông Nguyễn Hùng D là Giám đốc Hợp tác xã; ông Hoàng đã ủy quyền toàn bộ cho ông D điều hành hợp tác xã và báo cáo hoạt động. Cho đến ngày 17/10/2018 phục vụ tưới, tiêu không hiệu quả nên còn nợ tiền điện của Điện lực Châu Phú số tiền 614.666.521 đồng.

Ngày 29/11/2018, HTXNN PT có thanh toán cho Điện lực Châu Phú 276.615.000 đồng; Tổ hợp tác Mỹ Phú chuyển khoản thanh toán thêm cho HTXNN PT 50.000.000 đồng tiền thuê tài sản máy bơm điện, nên HTXNN PT đã thanh toán cho Điện lực Châu Phú tổng cộng 326.615.000 đồng, còn nợ 288.051.521 đồng. Cho đến nay HTXNN PT đã thanh toán xong toàn bộ nợ tiền điện cho Điện lực Châu Phú, không còn nợ tiền điện của Điện lực Châu Phú.

Tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải ngày 12/7/2023, biên bản đối chất ngày 21/8/2023, ông Nguyễn Hùng D trình bày:

HTXNN PT thành lập kể từ năm 2003, trong đó ông Nguyễn Văn H là Chủ tịch Hội đồng quản trị, còn ông D là Giám đốc Hợp tác xã. HTXNN PT thực tế đã ngưng hoạt động từ cuối tháng 10/2018. Ngày 30/10/2018, ông D ký xác nhận chốt nợ tiền điện là 614.666.521 đồng, sau đó Điện lực Châu Phú cắt điện. Đến ngày 29/11/2018, HTXNN PT lập hợp đồng hợp tác với ông Bùi Văn Tài, ngay sau đó ông Tài bắt đầu hoạt động trên vùng hoạt động cũ của HTXNN PT. Đến nay HTXNN PT chưa tuyên bố phá sản, vẫn trong tình trạng hoạt động về mặt pháp lý. Mọi hoạt động của HTXNN PT do ông D trực tiếp điều hành và đều có báo cáo đầy đủ cho ông Hoàng biết.

Tại thời điểm ngày 30/10/2018, HTXNN PT đối chiếu nợ tiền điện với Điện lực Châu Phú, thống nhất số tiền HTXNN PT còn nợ là 614.666.521 đồng. Sau khi chốt nợ ngày 30/10/2018 thì HTXNN PT thanh toán cho Điện lực Châu Phú được số tiền tổng cộng là 624.088.000 đồng, cụ thể như sau:

- Ngày 29/11/2018, thanh toán 276.615.000 đồng (có chứng từ chuyển tiền)

- Ngày 01/12/2018, thanh toán 80.000.000 đồng (theo phiếu chuyển tại Ngân hàng Vietinbank Châu Phú số tiền là 147.000.000 đồng, trong đó bao gồm số tiền 80.000.000 đồng thanh toán tiền điện cho HTXNN PT)

- Ngày 14/12/2018, thanh toán 31.000.000 đồng (có chứng từ chuyển tiền)

- Ngày 08/9/2020, thanh toán 50.016.500 đồng (có chứng từ chuyển tiền)

- Ngày 26/02/2021, thanh toán 70.023.100 đồng (có chứng từ chuyển tiền)

- Ngày 12/7/2021, thanh toán 20.011.000 đồng (có chứng từ chuyển tiền)

- Ngày 27/7/2021, thanh toán 66.473.000 đồng (có chứng từ chuyển tiền)

- Ngày 30/8/2021, thanh toán 30.011.000 đồng (có chứng từ chuyển tiền)

Kể từ ngày 29/11/2018, khi HTXNN PT ký hợp đồng hợp tác với ông Bùi Văn Tài thì HTXNN PT đã ngưng hoạt động, các chi phí nợ tiền điện phát sinh về sau do ông Tài chịu trách nhiệm trả cho Điện lực Châu Phú.

Căn cứ biên bản xác nhận nợ ngày 03/12/2018 giữa HTXNN PT và Điện lực Châu Phú thì số nợ tiền điện chốt đến ngày 03/12/2018 là 530.852.681 đồng, lúc này ký xác nhận nợ nhưng chưa đối chiếu bảng kê nợ chi tiết. Cho đến nay HTXNN PT đã thanh toán xong toàn bộ nợ tiền điện cho Điện lực Châu Phú, không còn nợ tiền điện của Điện lực Châu Phú.

Tại Công văn số: 452/TCKH-KD ngày 19/5/2021 của Phòng Tài chính - Kế hoạch huyện Châu Phú và qua xác minh tại UBND xã Mỹ Phú cung cấp thông tin như sau:

HTXNN PT đăng ký kinh doanh ngày 03/5/2002, đăng ký thay đổi lần 2 ngày 28/5/2015, vốn điều lệ 1.250.000.000 đồng, do ông Nguyễn Hùng D làm Giám đốc HTX và ông Nguyễn Văn H làm Chủ tịch Hội đồng quản trị quản lý, điều hành. HTXNN PT đi vào hoạt động đến tháng 11/2018 bị thua lỗ, không còn khả năng tài chính nên ngưng hoạt động; sau đó xin giải thể tự nguyện nhưng không đúng quy định pháp luật nên các ngành chuyên môn huyện Châu Phú hướng dẫn HTXNN PT làm đơn yêu cầu tuyên bố phá sản tại Tòa án. Trong thời gian ngưng hoạt động, ông Nguyễn Hùng D đại diện cho HTXNN PT cho HTXNN Tân PT (do ông Bùi Văn Tài - Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm Giám đốc làm đại diện) thuê lại trạm bơm điện và tài sản phục vụ tưới, tiêu trong vùng hoạt động.

HTXNN Tân PT được thành lập vào cuối năm 2018, đăng ký kinh doanh ngày 02/4/2019 và đi vào hoạt động độc lập, do ông Bùi Văn Tài làm Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm Giám đốc. HTXNN Tân PT sử dụng máy móc, trang thiết bị và hoạt động trong vùng hoạt động trước đây của HTXNN PT để phục vụ tưới, tiêu được 03 vụ thì ngưng hoạt động cho đến nay. Tuy nhiên, HTXNN Tân PT vẫn trong tình trạng hoạt động về mặt pháp lý; không bị giải thể, chia, tách, sáp nhập, hợp nhất hoặc tuyên bố phá sản.

Tại phiên tòa,

Ông Đặng Hữu Thiện, đại diện cho Tổng Công ty Điện lực miền Nam, trình bày: Các hóa đơn ông Nguyễn Hùng D giao nộp (06 hóa đơn từ ngày 14/12/2018 đến 30/8/2021) là thanh toán cho HTXNN Tân PT, do Điện lực Châu Phú không ký kết hợp đồng mua bán điện mới với HTXNN Tân PT nên hồ sơ quản lý tại Điện lực Châu Phú vẫn ghi tên của HTXNN PT. Trước đây, Điện lực Châu Phú và HTXNN Tân PT ký đối chiếu nợ tiền điện đến ngày 31/10/2019 là 979.663.617 đồng. Sau ngày 31/10/2019 thì có phát sinh thêm nợ tiền điện của HTXNN Tân PT khoảng 207 triệu đồng thì ngừng hoạt động. Lúc này Tổ hợp tác Mỹ Phú bắt đầu hoạt động, điều kiện để được đóng điện (cung cấp điện) là phải thanh toán nợ phát sinh sau khởi kiện của HTXNN Tân PT, nên một số chứng từ Tổ hợp tác Mỹ Phú chuyển tiền cho Điện lực Châu Phú bị nhầm lẫn là chuyển trả nợ tiền điện phát sinh sau khởi kiện cho HTXNN Tân PT. Do đó, Điện lực Châu Phú sẽ khởi kiện trong vụ kiện khác để yêu cầu HTXNN Tân PT thanh toán nợ tiền điện phát sinh sau ngày 31/10/2019 (sau khởi kiện).

Qua kiểm tra lại nội dung 06 chứng từ chuyển tiền của ông D giao nộp cho Tòa án (từ ngày 14/12/2018 đến 30/8/2021), có nội dung chuyển trả nợ tiền điện cho HTXNN PT tổng cộng 267.473.000 đồng, cụ thể như sau:

- Ngày 14/12/2018, thanh toán 31.000.000 đồng

- Ngày 08/9/2020, thanh toán 50.000.000 đồng

- Ngày 26/02/2021, thanh toán 70.000.000 đồng

- Ngày 12/7/2021, thanh toán 20.000.000 đồng

- Ngày 27/7/2021, thanh toán 66.473.000 đồng

- Ngày 30/8/2021, thanh toán 30.000.000 đồng

Nay Điện lực Châu Phú thống nhất trừ số tiền 267.473.000 đồng của 06 chứng từ chuyển tiền nêu trên vào số tiền nợ gốc 530.852.681 đồng. Yêu cầu HTXNN PT thanh toán cho Tổng Công ty Điện lực miền Nam số tiền nợ gốc còn lại là 263.379.681 đồng và tiền lãi chậm thanh toán tính kể từ ngày 30/8/2021 đến ngày xét xử sơ thẩm (28/9/2023), áp dụng mức lãi suất 10,5%/năm (mức lãi suất cho vay cao nhất của Vietinbank tại thời điểm xét xử), tiền lãi được tính như sau: 263.379.681đ x 10,5%/năm x (30/8/2021 đến 28/9/2023 = 759 ngày) = 57.056.969 đồng.

Tổng cộng nợ gốc và lãi tính đến ngày 28/9/2023 là: 320.886.650 đồng.

Yêu cầu tiếp tục tính lãi chậm thanh toán kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (29/9/2023) cho đến khi HTXNN PT thanh toán xong nợ tiền điện, theo mức lãi suất là 10,5%/năm.

Về án phí, giải quyết theo quy định pháp luật.

Ông Nguyễn Hùng D đại diện cho HTXNN PT trình bày:

HTXNN PT chính thức ngưng hoạt động vào cuối tháng 11/2018. Ông Nguyễn Văn H là Chủ tịch Hội đồng quản trị, ông D là Giám đốc trực tiếp quản lý, điều hành mọi hoạt động của Hợp tác xã và đều có báo cáo cho ông Hoàng biết. Ông D xác định 06 hóa đơn (từ ngày 14/12/2018 đến 30/8/2021) ông D đã giao nộp cho Tòa án là thanh toán nợ tiền điện cho HTXNN PT. Đây là nguồn tiền của HTXNN PT cho Tổ hợp tác Mỹ Phú thuê tài sản (trạm bơm điện, máy móc, thiết bị…), nên Tổ hợp tác Mỹ Phú trả tiền thuê thông qua việc nộp trả tiền điện cho HTXNN PT, nội dung chuyển tiền vẫn ghi là chuyển trả nợ tiền điện cho HTXNN PT. Nay HTXNN PT xác định có ký xác nhận nợ tiền điện vào ngày 03/12/2018 là 530.852.681 đồng, đã trả được nợ gốc theo 06 chứng từ chuyển tiền, cụ thể như sau:

- Ngày 14/12/2018, thanh toán 31.000.000 đồng (đã trừ ra phí chuyển tiền)

- Ngày 08/9/2020, thanh toán 50.000.000 đồng (đã trừ ra phí chuyển tiền)

- Ngày 26/02/2021, thanh toán 70.000.000 đồng (đã trừ ra phí chuyển tiền)

- Ngày 12/7/2021, thanh toán 20.000.000 đồng (đã trừ ra phí chuyển tiền)

- Ngày 27/7/2021, thanh toán 66.473.000 đồng (đã trừ ra phí chuyển tiền)

- Ngày 30/8/2021, thanh toán 30.000.000 đồng (đã trừ ra phí chuyển tiền)

Tổng cộng: 267.473.000 đồng

Nợ gốc còn lại là: (530.852.681đ - 267.473.000đ)= 263.379.681 đồng. Thống nhất tính tiền lãi chậm thanh toán với mức lãi suất 10,5%/năm, từ ngày 30/8/2021 đến ngày xét xử sơ thẩm (28/9/2023) như sau: 263.379.681đ x 10,5%/năm x 759 ngày = 57.056.969 đồng.

Tổng cộng nợ gốc và lãi tính đến ngày 28/9/2023 là: 320.886.650 đồng.

Thống nhất tiếp tục tính lãi chậm thanh toán kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (29/9/2023) cho đến khi HTXNN PT thanh toán xong nợ tiền điện, theo mức lãi suất là 10,5%/năm.

Về án phí, giải quyết theo quy định pháp luật.

Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và các đương sự theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về việc giải quyết vụ án:

- Đề nghị Hội đồng xét xử công nhận sự thỏa thuận giữa Tổng Công ty Điện lực miền Nam và HTXNN PT về việc HTXNN PT có trách nhiệm trả cho Tổng Công ty Điện lực miền Nam nợ tiền điện tổng cộng 320.886.650 đồng, trong đó bao gồm:

+ Tiền nợ gốc: 263.379.681 đồng

+ Tiền lãi chậm trả tính kể từ ngày 30/8/2021 đến ngày xét xử sơ thẩm (28/9/2023) là: 57.056.969 đồng.

- Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, HTXNN PT còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất 10,5%/năm.

- Về án phí, giải quyết theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thủ tục tố tụng:

Tổng Công ty Điện lực miền Nam và HTXNN PT đều có đăng ký kinh doanh và đều có mục đích lợi nhuận. HTXNN PT có đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố phá sản nhưng kết quả giải quyết của Tòa án không tuyên bố phá sản, nên HTXNN PT vẫn còn tình trạng hoạt động về mặt pháp lý. Tranh chấp giữa các đương sự phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại về hợp đồng mua bán hàng hóa (điện). Bị đơn HTXNN PT đăng ký trụ sở tại Ấp MH, xã MP, huyện CP, tỉnh AG nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Châu Phú theo quy định tại khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

HTXNN PT giao nộp bản photo hợp đồng hợp tác ngày 29/11/2018, được ký kết giữa ông Nguyễn Hùng D (đại diện HTXNN PT) và ông Bùi Văn Tài (đại diện Công ty Vương Đình An Giang). Tuy nhiên, Tổng Công ty Điện lực miền Nam chỉ yêu cầu thanh toán nợ tiền điện tính đến ngày 28/11/2018. Do đó, Tòa án không đưa ông Bùi Văn Tài và Công ty Vương Đình An Giang vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án.

Về hợp đồng mua bán điện:

Căn cứ vào các hợp đồng mua bán điện, các biên bản làm việc tại UBND xã Mỹ Phú và lời khai của các bên, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, có cơ sở xác định: Giữa Tổng Công ty Điện lực miền Nam (đại diện là Điện lực Châu Phú) và HTXNN PT có xác lập hợp đồng mua bán điện; thời hạn hợp đồng 05 năm kể từ ngày 22/8/2016 đến ngày 22/8/2021; thời hạn thanh toán 07 ngày kể từ ngày bên bán điện thông báo thanh toán lần đầu; tiền lãi chậm trả bằng mức lãi suất cho vay cao nhất của ngân hàng bên bán điện có tài khoản ghi trong hợp đồng tại thời điểm thanh toán. Xét thấy, các bên xác lập hợp đồng trên cơ sở tự nguyện, mục đích và nội dung của hợp đồng không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội, hình thức hợp đồng bằng văn bản phù hợp quy định tại các điều 117, 118, 119 của Bộ luật Dân sự năm 2015 và Điều 22 của Luật Điện lực, nên làm phát sinh quyền và nghĩa vụ dân sự giữa các bên.

Căn cứ biên bản đối chiếu nợ tiền điện ngày 03/12/2018, ông Nguyễn Hùng D đại diện cho HTXNN PT xác nhận còn nợ Điện lực Châu Phú số tiền 530.852.681 đồng. Ông D cho rằng khi ký thống nhất nợ thì chưa xem bảng kê chi tiết nợ tiền điện. Tuy nhiên, Điện lực Châu Phú đã cung cấp bảng kê chi tiết thể hiện nợ tiền điện của HTXNN PT tính đến ngày 28/11/2018 tổng cộng là 807.160.058 đồng. Ngày 29/11/2018, HTXNN PT chuyển trả 276.615.000 đồng, trong đó đủ thanh toán các hóa đơn số tiền 276.307.377 đồng và đưa vào tạm ứng 307.623 đồng (do số tiền 307.623 đồng không đủ thanh toán 01 hóa đơn). Do đó, HTXNN PT còn nợ tiền điện là 530.852.681 đồng. Tại phiên tòa, ông Đặng Hữu Thiện (đại diện nguyên đơn) và ông Nguyễn Hùng D (đại diện bị đơn) thống nhất HTXNN PT đã trả tiền nợ gốc 267.473.000 đồng (theo 06 chứng từ chuyển tiền từ ngày 14/12/2018 đến 30/8/2021), còn lại nợ gốc 263.379.681 đồng.

Về tính lãi do chậm thanh toán: Các bên thỏa thuận về lãi suất phù hợp với quy định tại khoản 4 Điều 23 của Luật Điện lực, theo đó, tiền lãi được tính bằng số tiền chậm trả nhân với mức lãi suất cho vay cao nhất của ngân hàng bên bán điện có tài khoản ghi trong hợp đồng tại thời điểm thanh toán và nhân với số ngày chậm trả. Nội dung hợp đồng thể hiện Điện lực Châu Phú có nhiều tài khoản ở nhiều ngân hàng, nhưng các bên chỉ giao dịch qua ngân hàng Vietinbank nên Hội đồng xét xử căn cứ vào mức lãi suất cho vay cao nhất hiện tại của Vietinbank là 10,5%/năm để tính lãi chậm thanh toán. Đại diện nguyên đơn yêu cầu bắt đầu tính lãi kể từ ngày 30/8/2021 là có lợi cho bị đơn nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Tiền lãi chậm trả tính kể từ ngày 30/8/2021 đến ngày xét xử sơ thẩm (28/9/2023) được tính như sau:

263.379.681 đồng x 10,5%/năm x 759 ngày = 57.056.969 đồng.

Tổng cộng nợ gốc và lãi tính đến ngày 28/9/2023 là: 320.886.650 đồng.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, HTXNN PT còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án, các bên thống nhất áp dụng theo mức lãi suất 10,5%/năm.

Xét thấy, HTXNN PT không thanh toán đầy đủ nợ tiền điện làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của Tổng Công ty Điện lực miền Nam. Do đó, Tổng Công ty Điện lực miền Nam khởi kiện yêu cầu HTXNN PT trả nợ tiền điện chưa thanh toán và tiền lãi chậm trả là có căn cứ, phù hợp với quy định tại các điều 50, 55, 306 Luật Thương mại năm 2005 và Điều 23 của Luật Điện lực. Tại phiên tòa, ông Đặng Hữu Thiện (đại diện nguyên đơn) và ông Nguyễn Hùng D (đại diện bị đơn) thống nhất được với nhau về tiền nợ gốc đã thanh toán và nợ gốc còn lại, về việc tính lãi chậm trả. Do đó, Hội đồng xét xử công nhận sự thỏa thuận này của các bên.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Yêu cầu khởi kiện đối với HTXNN PT được chấp nhận nên Tổng Công ty Điện lực miền Nam không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, trả lại tiền tạm ứng án phí mà Tổng Công ty Điện lực miền Nam đã nộp. Đối với HTXNN PT vi phạm nghĩa vụ trả nợ và yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên HTXNN PT phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 92, các điều 147, 246, 266 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào các điều 24, 50, 55, 306 của Luật Thương mại năm 2005; các điều 22, 23 của Luật Điện lực năm 2004 (được sửa đổi, bổ sung năm 2012, 2018, 2022);

Căn cứ vào Điều 11, Điều 13 của Nghị quyết số: 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;

Căn cứ vào khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Công nhận sự thỏa thuận của nguyên đơn Tổng Công ty Điện lực miền Nam và HTXNN PT về việc thanh toán nợ tiền điện.

Buộc HTXNN PT có trách nhiệm trả cho Tổng Công ty Điện lực miền Nam nợ tiền điện tổng cộng là 320.886.650 đồng (Ba trăm hai mươi triệu tám trăm tám mươi sáu nghìn sáu trăm năm mươi đồng), trong đó bao gồm:

- Tiền nợ gốc: 263.379.681 đồng (Hai trăm sáu mươi ba triệu ba trăm bảy mươi chín nghìn sáu trăm tám mươi mốt đồng);

- Tiền lãi chậm trả tính kể từ ngày 30/8/2021 đến ngày xét xử sơ thẩm (28/9/2023) là: 57.056.969 đồng (Năm mươi bảy triệu không trăm năm mươi sáu nghìn chín trăm sáu mươi chín đồng).

Kể từ ngày 29/9/2023 (ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm) cho đến khi thi hành án xong, HTXNN PT còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án, theo mức lãi suất 10,5%/năm (Mười phẩy năm phần trăm trên năm).

2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

HTXNN PT phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là: 16.044.000 đồng (Mười sáu triệu không trăm bốn mươi bốn nghìn đồng).

Trả lại cho Tổng Công ty Điện lực miền Nam (do ông Đặng Hữu Thiện - Giám đốc Điện lực Châu Phú làm đại diện) tiền tạm ứng án phí đã nộp là: 20.700.000 đồng (Hai mươi triệu bảy trăm nghìn đồng), theo biên lai thu số 0006014 ngày 10 tháng 12 năm 2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Phú, tỉnh An Giang.

3. Về quyền kháng cáo: Tổng Công ty Điện lực miền Nam và HTXNN PT có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ