vanban.org

Bản án 09/2023/HSST — Hình sự

TAND TP. Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc Tuyên án 16/01/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lê Đình D phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Lê Đình D 06 (tháng) 10 (mười) ngày tù (bằng thời gian bị cáo bị tạm giam). Trả tự do ngay tại phiên toà cho bị cáo đang bị tạm giam, nếu họ không bị tạm giam về một tội phạm khác. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự: Khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; t… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Đình Diện trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Đình D phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ VĨNH YÊN
TỈNH VĨNH PHÚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 09/2023/HSST
Ngày 16-01-2023

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đào Văn Tiến.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lưu Văn Hà và ông Nguyễn Thế Khải.

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Ý Tưởng- Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên.

Đại D viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Yên tham gia phiên toà: Ông Phan Anh Đức và bà Bùi Thị Hồng Lương - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 01 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc, xét xử công khai vụ án hình sự thụ lý số:169/2022/HSST ngày 23/12/2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2023/HSST- QĐ ngày 03/01/023, đối với bị cáo:

1. Lê Đình D, sinh ngày 10/01/1991; nơi sinh: Tỉnh Thanh Hoá; nơi cư trú: Thôn Kon Tu Dốp 1, xã PK, huyện ĐT, tỉnh Kon Tum; Giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; trình độ văn hóa: 12/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông: Lê Đình Q và bà Vũ Thị Ch; vợ: Nguyễn Thị T; con: 02 con; Tiền án; Tiền sự: Không, (có mặt).

Người bào chữa cho bị cáo là ông Nguyễn Văn H, Luật sư thuộc Công ty TNHH MTV Luật TH; địa chỉ: Số 46 đường Nguyễn Tất Thành, xã DT, thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc, (có mặt).

2. Bị hại: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1988; Địa chỉ: Số nhà 11, ngõ 1 đường Đầm Vạc, phường ĐĐ, thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc, (có mặt).

3. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

- Anh Nguyễn Bá G, sinh năm 1984; Địa chỉ: Số 516 đường H Vương, phường TS, thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc, (có mặt).

4. Người làm chứng:

- Anh Dương Văn H, sinh năm 1986; Địa chỉ: Số nhà 11, ngõ 1đường Đầm Vạc, phường Đống Đa, thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc, (vắng mặt).

- Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1979; địa chỉ: TDP Đông Phú 2, phường Đồng Tâm, thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc (vắng mặt).

- Chị PH Thị T, sinh năm 1983; địa chỉ: TDP Đông Phú 1, phường Đồng Tâm, thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc, (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng hơn 08 giờ ngày 04/5/2022, Lê Đình D, sinh năm: 1991, HKTT: Xã PK, huyện Đắk Tô, tỉnh Kon Tum, điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda Wave RSX, BKS: 19G1-266.26, đến quán bún của chị Nguyễn Thị H, sinh năm: 1979, trú tại: Phường Đồng Tâm, thành phố Vĩnh Yên, ở trong Chợ Đồng Tâm để ăn sáng. Khi đến nơi, D vào bàn ngồi rồi gọi chị H bán cho 01 bát bún để ăn, lúc này trong quán bún có chị H và chị Nguyễn Thị H, sinh năm: 1988 cùng chồng chị Hòa là anh Dương Văn H đang ngồi ăn sáng, cả 04 người cùng ngồi chung 01 bàn (Quán bún chỉ có 01 bàn ăn có D tích khoảng 2,1m2 và 04 ghế băng kê xung quanh, chị H ngồi ở ghế phía trong đối D với D, ngồi bên trái cách D khoảng 30-40cm là chị Hoà, ngồi bên trái chị Hòa là anh H). Khi ăn sáng, chị Hòa để 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone XS max màu vàng, ốp lưng bằng nhựa dẻo trong suốt, lưng điện thoại này dán 01 lá tài lộc màu đỏ trên bàn ăn ở phía trước vị trí chị ngồi, cách mép bàn ăn khoảng 40-50cm (mặt điện thoại úp xuống, lưng điện thoại hướng lên trên). Một lúc sau, chị Hòa ăn xong thì phát hiện quên không mang tiền nên bảo anh H ở lại để chị Hòa đi về cửa hàng mi móng của chị ở gần đó (cách quán bún khoảng 30m) để lấy tiền trả tiền ăn sáng cho chị H, anh H đồng ý. Sau đó, chị Hòa đứng dậy một mình đi bộ về cửa hàng, còn anh H ăn xong thì đứng dậy lấy nước uống rồi đi ra phía trước quán của chị H đứng đợi chị Hòa. Khi về cửa hàng lấy tiền, chị Hòa định sẽ quay lại ngay nên vẫn để chiếc điện thoại di động Iphone XS max của mình ở bàn ăn trong quán nhà chị H (mặt khác chị Hòa và chị H cùng bán hàng trong Chợ Đồng Tâm, thành phố Vĩnh Yên, hai cửa hàng ở gần nhau, chị Hòa thường xuyên sang quán chị H để ăn bún, đun nhờ nước và ngồi chơi, những lần này chị Hòa vẫn để điện thoại trên bàn ăn nhà chị H để đi qua đi lại giữa hai cửa hàng).

Sau khi chị Hòa và anh H ăn xong rồi đứng dậy được khoảng 03 - 05 phút thì D cũng ăn xong và đứng lên thanh toán tiền ăn cho chị H, lúc này D nhìn thấy có 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS max ở trên bàn ăn, cách vị trí D ngồi khoảng 70cm-80cm về phía bên trái, chị H đang mải làm việc, xung quanh không ai để ý đến D. Thấy vậy, D đã nhanh chóng trả tiền ăn sáng cho chị H rồi bước chân trái một bước về bên trái và dùng tay trái lấy chiếc điện thoại di động trên mặt bàn cất vào túi quần bên trái chiếc quần D đang mặc rồi lấy xe máy BKS: 19G1-226.26 đi về nhà anh Nguyễn Bá G, sinh năm: 1984, ở đường H Vương, phường Đồng Tâm, thành phố Vĩnh Yên là anh đồng hao của D cất xe máy. Sau đó, D điều khiển xe ô tô BKS: 29C-009.86 đi từ thành phố Vĩnh Yên đến thành phố Việt Trì- tỉnh Phú Thọ, để giao hàng. Sau khi về cửa hàng lấy tiền, chị Hòa quay lại quán để trả tiền cho chị H, khi nhìn thấy chị Hòa đi gần đến nơi thì anh H cũng dời đi (đi làm), chị Hòa đi vào quán của chị H thì không thấy chiếc điện thoại Iphone XS max mà chị để trên mặt bàn ăn trước đó đâu nên đã nhờ chị PH Thị T, sinh năm: 1983, trú tại: TDP Đông Phú 1, phường Đồng Tâm, thành phố Vĩnh Yên là người bán cơm cạnh quán bún của chị H gọi vào số điện thoại của mình. Chị T và chị Hòa sử dụng điện thoại có gắn sim số 0368.163.388 của chị T gọi 03 cuộc vào số thuê bao 0987.732.718 gắn bên trong máy điện thoại của chị Hòa thì thấy có chuông nhưng không ai nhấc máy, chị Hòa tiếp tục bấm gọi thì điện thoại báo thuê bao không liên lạc được.

Đến khoảng 12 giờ trưa cùng ngày, chị Hoà xem Camera an ninh tại cửa hàng quần áo gần đó của chị Trần Thị Diệu Thúy, sinh năm: 1970, trú tại: TDP Đông Hòa 1, phường Đồng Tâm, thành phố Vĩnh Yên thì thấy hình ảnh của người nam giới cùng ngồi ăn sáng với chị tại quán bún của chị H chính là người đã trộm cắp điện thoại của chị để trên mặt bàn ăn tại quán bún chị H và lên xe máy bỏ đi. Chị Hoà dùng điện thoại của bạn quay lại đoạn video rồi ra Công an phường Đồng Tâm, thành phố Vĩnh Yên trình báo sự việc. Khoảng 15 giờ ngày 04/5/2022, chị Hòa sử dụng tài khoản mạng xã hội Facebook “Hoà Nguyễn” đăng bài viết với nội dung tìm người trong video đã cầm chiếc điện thoại của chị Hoà nhưng không thấy ai liên hệ lại nên tối ngày 04/5/2022 chị Hòa đã ra cửa hàng Viettel tại khu vực Dốc Láp, phường Liên Bảo, thành phố Vĩnh Yên để làm lại sim số 0987.732.718 gắn trong chiếc điện thoại chị bị kẻ gian trộm cắp. Đến khoảng 16 giờ ngày 05/5/2022, chị Hòa tiếp tục sử dụng tài khoản mạng xã hội Facebook “Hoà Nguyễn” đăng bài viết với nội dung tìm người trong video đã cầm chiếc điện thoại của chị Hoà, ở bài đăng này chị Hòa nhấn mạnh nội dung đã trình báo Cơ quan Công an để điều tra xử lý người trộm cắp điện thoại của chị, đồng thời đăng kèm theo số điện thoại 0987.732.718 của chị Hoà để liên lạc. Sau đó, khoảng 19 giờ 50 phút ngày 05/5/2022, chị Hòa nhận được cuộc điện thoại của anh Nguyễn Bá G, qua điện thoại anh G nói cho chị biết việc D là người đã cầm điện thoại ở quán ăn sáng và bảo ngày hôm sau D sẽ mang trả lại điện thoại cho chị Hoà (trước đó anh G đã gọi điện thoại cho D để hỏi rõ sự việc). Đến khoảng 09 giờ ngày 06/5/2022, D để chiếc điện thoại Iphone XS max vào 01 vỏ hộp của Iphone XS max, trên thân hộp có ghi số điện thoại của chị Hoà rồi gửi một người làm nghề xe ôm tại thị trấn Thổ Tang, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc, mang chiếc điện thoại này đến thành phố Vĩnh Yên trả cho chị Hoà. Đến khoảng 10 giờ cùng ngày người lái xe ôm mang chiếc điện thoại đến ngã tư chợ Đồng Tâm và điện thoại cho chị Hoà ra nhận đồ thì chị Hoà do bận việc đã bảo người này mang điện thoại đến số nhà 516 H Vương- phường Đồng Tâm của anh G. Sau đó, chị Hoà đến nhà anh G gặp chị Nguyễn Thị Thư, sinh năm: 1976 là nhân viên của cửa hàng nhà anh G và nhận lại chiếc điện thoại mà D đã trộm cắp trước đó.

Theo đơn trình báo ngày 04/5/2022, chị Nguyễn Thị Hòa trình báo về việc sáng cùng ngày chị bị 01 nam thanh niên lấy 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS màu vàng tại quán bún H Tuấn ở chợ Đồng Tâm, thuộc phường Đồng Tâm, thành phố Vĩnh Yên. Trị giá tài sản khoảng 9.000.000đ. Đồng thời chị Hòa giao nộp cho Công an phường Đồng Tâm, thành phố Vĩnh Yên 01 đoạn video dài 04 phút 29 giây ghi lại cảnh đối tượng trộm cắp chiếc điện thoại Iphone XS max màu vàng của chị Hòa.

Sau khi nhận được đơn trình báo của chị Nguyễn Thị Hòa, Công an phường Đồng Tâm, thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc đã T hành lập biên bản xác định hiện trường, lấy lời khai của bị hại, người liên quan. Đồng thời lập biên bản tạm giữ của chị Nguyễn Thị Hòa 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS max màu vàng đã qua sử dụng. Ngày 11/5/2022, Công an phường Đồng Tâm đã chuyển hồ sơ vụ việc đến Công an thành phố Vĩnh Yên để xem xét, giải quyết theo thẩm quyền.

Cùng ngày, Cơ quan CSĐT – Công an thành phố Vĩnh Yên đã tạm giữ của Lê Đình D 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave RSX, BKS: 19G1-26626.

Ngày 30/5/2022, Cơ quan CSĐT – Công an thành phố Vĩnh Yên đã tạm giữ của Lê Đình D 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Vivo màu đen, có ốp lưng màu vàng; 01 quần đùi bằng vải màu đen; 01 áo phông cộc tay màu xanh có họa tiết vẩy sơn nhiều màu.

Ngày 30/5/2022, Cơ quan CSĐT – Công an thành phố T hành kiểm tra điện thoại của Lê Đình D, xác định: Vào lúc 8 giờ 54 phút ngày 04/5/2022 tài khoản Zalo của D có nhắn tin cho một tài khoản Zalo có tên “Việt dạy lái xe”.

Ngày 03/6/2022, chị Nguyễn Thị Hòa đã tự nguyện giao nộp cho Cơ quan CSĐT – Công an thành phố Vĩnh Yên 01 hộp hình chữ nhật có kích thước (17,5 x 9,5)cm, là vỏ hộp đựng điện thoại nhãn hiệu Iphone, đáy hộp có dán các thông tin là hộp đựng Iphone XS max 64 GB của nhà sản xuất, đã cũ. Một bên sườn hộp có số 88871 và một bên sườn có số “0”, chị Hòa trình bày khi chị nhận lại chiếc điện thoại bị trộm cắp của chị thì chiếc điện thoại được bọc trong hộp này.

Ngày 02/11/2022, chị Nguyễn Thị Hòa giao nộp cho Cơ quan điều tra 01 tờ giấy A4, nội dung in hình ảnh thể hiện “đơn xin giảm nhẹ hình phạt” mang tên Nguyễn Thị Hòa; 01 tờ giấy A4 nội dung in hình ảnh thể hiện một tài khoản Facebook “Vũ Viết Quân” nhắn tin đến tài khoản Facebook của chị Nguyễn Thị Hòa.

Ngày 06/6/2022, Cơ quan CSĐT – Công an thành phố Vĩnh Yên ra yêu cầu định giá số 91 gửi Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự TP Vĩnh Yên đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS max màu vàng đã qua sử dụng. Tại bản kết luận định giá tài sản số 77/KL – HĐĐG ngày 07/6/2022 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự TP Vĩnh Yên kết luận chiếc điện thoại trên có trị giá 7.000.000đ.

Ngày 19/7/2022, Cơ quan CSĐT – Công an thành phố Vĩnh Yên ra Quyết định trưng cầu giám định số 370, trưng cầu Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Vĩnh Phúc đối với 01 đoạn video do chị Nguyễn Thị Hòa giao nộp. Ngày 25/7/2022, Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Vĩnh Phúc có thông báo từ chối giám định do tệp video gửi giám định không có tính liên tục, có các thao tác tạm dừng, phóng to, thu nhỏ các đối tượng xuất hiện trong video, là video ghi lại màn hình của thiết bị di động, không có giá trị để kết luận giám định.

Ngày 30/9/2022, Cơ quan CSĐT – Công an thành phố Vĩnh Yên có Công văn số 3725, 3967 đề nghị Tập đoàn Công nghiệp – Viễn thông Quân đội Viettel: Xác định thông tin chủ thuê bao, cuộc gọi đến, cuộc gọi đi, rút list liên lạc của các thuê bao số 0368.163.388; 0987.732.718; 0961.981.211 và thuê bao số 0828.090.678 trong thời gian từ ngày 04/5/2022 đến ngày 06/5/2022.

Kết quả rút list: Hồi 08 giờ 53 phút ngày 04/5/2022 phát sinh 03 cuộc gọi liên tiếp từ số điện thoại 0368.163.388 (đăng ký mang tên người sử dụng là PH Thị T) đến số thuê bao 0987.732.718 (đăng ký tên người sử dụng là Nguyễn Thị Hòa), không có người nghe máy, không phát sinh nội dung cuộc gọi trên chi tiết lịch sử cuộc gọi.

- Hồi 16 giờ 18 phút 47 giây và 17 giờ 59 phút 45 giây ngày 04/5/2022 phát sinh cuộc gọi từ số điện thoại 0961.981.211 (đăng ký tên người sử dụng là Nguyễn Bá G) đến số điện thoại 0828.090.678 (đăng ký tên người sử dụng là Lê Đình D), thời lượng cuộc gọi là 79 giây và 11 giây; Hồi 09 giờ 35 phút 59 giây ngày 05/5/2022 phát sinh cuộc gọi từ số điện thoại 0961.981.211 đến số điện thoại 0828.090.678 thời lượng cuộc gọi là 58 giây.

- Hồi 19 giờ 49 phút 11 giây và 20 giờ 06 phút 53 giây ngày 05/5/2022 phát sinh cuộc gọi từ số điện thoại 0961.981.211 đến số điện thoại 0987.732.718, tổng thời lượng là 12 phút 38 giây.

Trong ngày 06/5/2022, phát sinh một số cuộc gọi đi, đến giữa số thuê bao 0961.981.211 với số thuê bao 0987.732.718 và giữa số thuê bao 0961.981.211 với số thuê bao 0828.090.678.

Quá trình điều tra, ban đầu D khai nhận: Khoảng hơn 08 giờ ngày 04/5/2022, D một mình điều khiển xe máy BKS: 19G1-226.26 đến quán ăn sáng của chị H ở chợ Đồng Tâm, thành phố Vĩnh Yên rồi thực hiện hành vi trộm cắp chiếc điện thoại Iphone XS max của chị Hòa, sau đó điều khiển xe ô tô BKS: 29C-009.86 đi giao hàng ở thị trấn Thổ Tang, huyện Vĩnh Tường và thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ như nội dung nêu trên. Khi D điều khiển xe ô tô đi được một đoạn thì thấy có số điện thoại lưu trong danh bạ là “chị T cơm” gọi đến điện thoại mà D vừa trộm cắp, D không bấm nhận cuộc gọi nhưng số thuê bao trên tiếp tục gọi đến, do sợ nếu nghe máy thì hành vi trộm cắp tài sản của mình bị phát hiện nên D đã dùng thao tác tắt nguồn chiếc điện thoại này rồi tiếp tục điều khiển xe ô tô BKS: 29C-009.86 đi lên thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ. Khoảng 18 giờ ngày 04/5/2022, D đang ở thành phố Việt Trì thì nhận được cuộc điện thoại từ số thuê bao 0961.981.211 của anh G vào số điện thoại 0828.090.678 của D, qua điện thoại anh G hỏi có phải D là người lấy điện thoại của chị Hòa không, thì D biết hành vi trộm cắp tài sản của mình đã bị phát hiện nhưng do xấu hổ nên D nói với anh G là D cầm nhầm chiếc điện thoại này. Sáng ngày 06/5/2022, D thuê một người xe ôm mang trả lại điện thoại cho chị Hòa.

Tại biên bản hỏi cung ngày 28/10/2022 và tại phiên toà Lê Đình D thay đổi lời khai. D khẳng định bản thân không trộm cắp chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone XS max của chị Hòa, ngày 04/5/2022. Sau khi ăn sáng tại quán của chị H, D đứng dậy thanh toán tiền ăn và tưởng chiếc điện thoại trên bàn ăn là điện thoại của mình nên D đã cầm nhầm; bản thân D không có ý thức chiếm đoạt chiếc điện thoại Iphone XS max của chị Hòa; việc D tắt nguồn điện thoại vì đang lái xe không muốn người khác gọi đến.

Tại Cáo trạng số: 05/CT- VKSNDTPVY -VP ngày 21 tháng 12 năm 2022, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Yên đã truy tố Lê Đình D về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, bị cáo không thành khẩn về hành vi phạm tội của mình và cho rằng không phạm tội “Trộm cắp tài sản” mà chỉ cầm nhầm điện thoại của chị Hoà.

Đại D Viện kiểm sát tại phiên tòa luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng. Căn cứ tính chất, mức độ phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lê Đình D phạm tội “Trộm cắp tài sản” áp dụng theo khoản 1 Điều 173; điểm b, i khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; xử phạt tù bị cáo bằng thời gian tạm giam bị cáo và trả tự do bị cáo ngay tại phiên toà.

Áp dụng: Khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự: Khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự trả lại cho bị cáo 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Vivo màu đen, có ốp lương màu vàng; 01 quần đùi vải màu vàng và 01 áp phông cộc tay màu xanh có hoạ tiết vảy sơn nhiều màu, nhưng tiếp tục tạm giữ chiếc điện thoại nhãn hiệu Vivo màu đen của D để đảm bảo thi hành án.

Ý kiến của những người tham gia tố tụng:

Người bị hại chị Nguyễn Thị H trình bày: Khoản 08 giờ ngày 04/5/2022 chị Nguyễn Thị H cùng chồng chị Hòa là anh Dương Văn H đến quán của chị Nguyễn Thị H trong chợ Đồng Tâm để ăn sáng chị Hoà và anh H ngồi chung một bàn có thêm 02 người. Khi ăn sáng, chị Hòa để 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone XS max màu vàng, ốp lưng bằng nhựa dẻo trong suốt, lưng điện thoại này dán 01 lá tài lộc màu đỏ trên bàn ăn ở phía trước vị trí chị ngồi, cách mép bàn ăn khoảng 40-50cm (mặt điện thoại úp xuống, lưng điện thoại hướng lên trên). Một lúc sau, chị Hòa ăn xong thì phát hiện quên không mang tiền nên bảo anh H ở lại để chị Hòa đi về cửa hàng mi móng của chị ở gần đó (cách quán bún khoảng 30m) để lấy tiền trả tiền ăn sáng cho chị H, anh H đồng ý. Sau đó, chị Hòa đứng dậy một mình đi bộ về cửa hàng, còn anh H ăn xong thì đứng dậy lấy nước uống rồi đi ra phía trước quán của chị H đứng đợi chị Hòa. Khi về cửa hàng lấy tiền, chị Hòa định sẽ quay lại ngay nên vẫn để chiếc điện thoại di động Iphone XS max của mình ở bàn ăn trong quán nhà chị H. Sau khi về cửa hàng lấy tiền, chị Hòa quay lại quán để trả tiền cho chị H, khi nhìn thấy chị Hòa đi gần đến nơi thì anh H cũng dời đi (đi làm), chị Hòa đi vào quán của chị H thì không thấy chiếc điện thoại Iphone XS max mà chị để trên mặt bàn ăn trước đó đâu nên đã nhờ chị PH Thị T, sinh năm: 1983, trú tại: TDP Đông Phú 1, phường Đồng Tâm, thành phố Vĩnh Yên là người bán cơm cạnh quán bún của chị H gọi vào số điện thoại của mình. Chị T và chị Hòa sử dụng điện thoại có gắn sim số 0368.163.388 của chị T gọi 03 cuộc vào số thuê bao 0987.732.718 gắn bên trong máy điện thoại của chị Hòa thì thấy có chuông nhưng không ai nhấc máy, chị Hòa tiếp tục bấm gọi thì điện thoại báo thuê bao không liên lạc được.

Đến khoảng 12 giờ trưa cùng ngày, chị Hoà xem Camera an ninh tại cửa hàng quần áo gần đó của chị Trần Thị Diệu Thúy, sinh năm: 1970, trú tại: TDP Đông Hòa 1, phường Đồng Tâm, thành phố Vĩnh Yên thì thấy hình ảnh của người nam giới cùng ngồi ăn sáng với chị tại quán bún của chị H chính là người đã trộm cắp điện thoại của chị để trên mặt bàn ăn tại quán bún chị H và lên xe máy bỏ đi. Chị Hoà dùng điện thoại khác quay lại đoạn video rồi ra Công an phường Đồng Tâm, thành phố Vĩnh Yên trình báo sự việc. Khoảng 15 giờ ngày 04/5/2022, chị Hòa sử dụng tài khoản mạng xã hội Facebook “Hoà Nguyễn” đăng bài viết với nội dung tìm người trong video đã cầm chiếc điện thoại của chị Hoà nhưng không thấy ai liên hệ lại nên tối ngày 04/5/2022 chị Hòa đã ra cửa hàng Viettel tại khu vực Dốc Láp, phường Liên Bảo, thành phố Vĩnh Yên để làm lại sim số 0987.732.718 gắn trong chiếc điện thoại chị bị kẻ gian trộm cắp. Đến khoảng 16 giờ ngày 05/5/2022, chị Hòa tiếp tục sử dụng tài khoản mạng xã hội Facebook “Hoà Nguyễn” đăng bài viết với nội dung tìm người trong video đã cầm chiếc điện thoại của chị Hoà, ở bài đăng này chị Hòa nhấn mạnh nội dung đã trình báo Cơ quan Công an để điều tra xử lý người trộm cắp điện thoại của chị, đồng thời đăng kèm theo số điện thoại 0987.732.718 của chị Hoà để liên lạc. Sau đó, khoảng 19 giờ 50 phút ngày 05/5/2022, chị Hòa nhận được cuộc điện thoại của anh Nguyễn Bá G, qua điện thoại anh G nói cho chị biết việc D là người đã cầm điện thoại ở quán ăn sáng và bảo ngày hôm sau D sẽ mang trả lại điện thoại cho chị Hoà (trước đó anh G đã gọi điện thoại cho D để hỏi rõ sự việc). Đến khoảng 10 giờ ngày 05/6/2022 có số điện thoại lạ tự xưng là người lái xe ôm điện đến bảo chị Hoà ra ngã tư chợ Đồng Tâm nhận lại điện thoại nhưng do bận việc nên chị Hoà đã bảo người này mang điện thoại đến số nhà 516 H Vương- phường Đồng Tâm của anh G. Sau đó, chị Hoà đến nhà anh G gặp chị Nguyễn Thị Thư, sinh năm: 1976 là nhân viên của cửa hàng nhà anh G và nhận lại chiếc điện thoại.

Sau khi sự việc xảy ra chị Nguyễn Thị Tuyết và gia đình D có đến gặp và xin lỗi chị Hoà, đầu tháng 9 chị Tuyết có nhờ chị Hoà viết đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho D, chị Hoà đã viết và đưa lại cho chị Tuyết, sau đó gia đình D lại nhờ chị Hoà viết lại đơn khác theo nội dung đã được soạn sẵn, thể hiện sáng ngày 04/5/2022 chị Hoà cùng anh H đến quán bún của chị H ở chợ Đồng Tâm ăn bún sau đó để quên chiếc đoạn trên bàn nên D đã cầm chiếc điện thoại này. Do nghĩ là đơn đã được Công an hướng dẫn và không muốn chị Tuyết làm phiền nên chị Hoà đã viết “Giấy xác nhận sự việc” đề ngày 11/9/2022 theo nội dung chị Tuyết đã soạn sẵn. Sau này chị biết lá đơn này chị Tuyết đã gửi cho cơ quan chức năng và đăng lên mạng xã hội cùng đoạn video quay lén chị Hoà, nhằm mục đích kêu oan, chị rất bất bình việc làm này của gia đình. Tại cơ quan điều tra và tại phiên toà chị Hoà xác định chị không bỏ quên điện thoại. Việc chị Hòa ghi nội dung đơn có từ “bỏ quên” trong đơn xin rút đơn khởi kiện ngày 15/5/2022, Giấy xác nhận sự việc ngày 11/9/2022 là viết theo ý của chị Tuyết và chị Chinh (là chị gái Tuyết) để D được giảm nhẹ tội; còn nội dung lời nói trong đoạn video do chị Tuyết quay lén ngày 09/7/2022 tại cửa hàng mi móng của chị Hòa là do tại buổi nói chuyện hôm đó phía gia đình chị Tuyết (gồm chị Tuyết và bố mẹ D) khi đến gặp chị Hòa đã liên tục hỏi về việc rút đơn và để quên điện thoại, chị Hòa thương hoàn cảnh của bố mẹ D ở xa, già yếu nên chị nói “để quên” để ông bà yên tâm, thực tế chị không bỏ quên điện thoại.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Bá G trình bày: Khoản 19 giờ ngày 04/5/2022 anh nhận được tin nhắn của của mẹ vợ là bà Nguyễn Thị Chiến nhắn tin cùng hình ảnh của D và xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu đỏ đen được đăng lên mạng cho anh với nội dung có “Có một tài khoản Facebook đăng hình ảnh của D kèm theo thông tin tìm điện thoại” lúc này anh G có gọi điện cho D và hỏi có người đăng tin tìm điện thoại D có cầm không thì D trả lời có cầm ở quán ăn sáng trong chợ Đồng Tâm sáng ngày 04/5/2022, anh G bảo D đem điện thoại về gửi trả rồi anh G điện thoại cho chị Nguyễn Thị H theo số điện thoại đăng trên Facebook, qua trao đổi anh G được biết chị Hoà là chủ chiếc điện thoại D đang cầm. Sáng ngày 05/5/2022 có một người xe ôm điện thoại cho anh bảo nhận hàng nhưng anh bận không nhận được và nhờ mang đến 516 đường H Vương, phường Đồng Tâm giao cho nhân viên của anh, sau đó chị Hoà đến lấy điện thoại. Đối với xe mô tô BKS 19G-26626 mà D sử dụng là xe của anh mua lại của một cửa hàng xe máy cũ ở Bồ Sao – Vĩnh Tường, đăng ký xe mang tên Vũ Thị Quỳnh để ở nhà cho nhân viên đi lại để giao hàng, nay anh đã nhận lại được xe máy trên và không có đề nghị gì khác.

Người làm chứng anh Dương Văn H vắng mặt tại phiên toà, tại biên bản lấy lời khai tại cơ quan điều tra anh H trình bày: Anh là chồng của chị Nguyễn Thị H, sáng ngày 04/5/2022 anh cùng chị Hoà đến quán ăn sáng của chị H Tuấn tại Chợ Đồng Tâm, phường Đồng Tâm, thành phố Vĩnh Yên để ăn sáng, hai vợ chồng anh ngồi cùng bàn và ăn sáng, sau khi ăn sáng vợ anh có để 01 điện thoại Iphone XS max trên bàn ăn, khi ăn cùng bàn có một người nam giới cũng ngồi ăn cùng sau này anh biết là Lê Đình D, sau khi ăn sáng xong thì vợ anh quên tiền đã chạy về nhà lấy tiền cách đó khoảng 40m, và bảo anh cứ ở đó, khi chạy về vợ anh không cầm điện thoại về mà vẫn để trên bàn, lúc này anh ra uống nước, khoảng 3 đến 5 phút sau vợ anh quay lại thanh toán tiền thì anh đi làm đến 12h cùng ngày mới về thì chị Hoà cho biết điện thoại để trên bàn ăn sáng bị mất trộm và chị Hoà đã đến cơ quan công an trình báo. Đến ngày 06/5/2022 vợ anh đã nhận lại điện thoại đã mất trộm.

Chị NguyễnThị H vắng mặt tại phiên toà, tại biên bản lấy lời khai tại cơ quan điều tra chị H trình bày: Chị bán hàng ăn sáng tại Chợ Đồng Tâm, phường Đồng Tâm, thành phố Vĩnh Yên khoảng 08h ngày 04/5/2022 vợ chồng chị Hoà đến ăn sáng, sau khi ăn xong chị Hoà có về nhà lấy tiền để trả chị, khi trả tiền xong chị Hoà có hỏi chị H “Có thấy điện thoại của em ở đây không”, chị bảo không biết vì chị bán hàng không để ý, chị chỉ biết có một người nam giới ngồi ăn sáng cùng vợ chồng chị Hoà, khi chị Hoà đi về được 2 phút thì người đàn ông này cũng ăn xong và đi về, sau đó chị Thuý bán hàng quần áo bên cạnh cho chị xem camera thì biết người nam giới này lấy điện thoại của chị Hoà.

Chị PH Thị T vắng mặt tại phiên toà, tại biên bản lấy lời khai tại cơ quan điều tra chị T trình bày: Chị bán hàng cơm tại chợ Đồng Tâm, phường Đồng Tâm, thành phố Vĩnh Yên, khoảng 08 h 45 phút ngày 04/5/2022 chị đang bán hàng tại chợ thì chị Hoà làm nghề my móng gần đó và hỏi chị mượn điện thoại để chị Hoà gọi và số điện thoại của chị Hoà gọi có đổ chuông nhưng không có người nghe máy, sau đó chị Hoà trả lại điện thoại cho chị.

Bị cáo D không bào chữa và tranh luận gì và xin nhận một phần lỗi về mình và đề nghị Hội đồng xét xử công bằng.

Luật sư bào chữa cho bị cáo trình bày: Bị cáo Lê Đình D không phạm tội “Trộm cắp tài sản” vì D không lén lút với chủ tài sản tại quán ăn sáng của chị H. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố D không phạm tội trộm cắp tài sản và trả tự do Lê Đình D ngay tại phiên toà.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn D ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo. Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người bào chữa cho rằng điều tra viên Nguyễn Hữu Thái ép cung bị cáo nhưng quá trình điều tra có nhiều điều tra viên khác và kiểm sát viên lấy lời khai, hỏi cung bị cáo nhưng bị cáo không có ý kiến gì và tại phiên toà bị cáo, luật sư bào chữa cho bị cáo cũng không cung cấp được chứng cứ gì chứng minh điều tra viên ép cung bị cáo. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên toà bị cáo D không thừa nhận hành vi trộm cắp tài sản của chị Hoà mà chỉ cho rằng cầm nhầm điện thoại của chị Hoà tại quán ăn sáng. Tuy nhiên, căn cứ vào lời khai nhận ban đầu, biên bản hỏi cung, bản tự khai, bản tường trình trước khi khởi tố bị cáo và giai đoạn đầu khởi tố bị cáo Lê Đình D đều khai (cụ thể 18 bản hỏi cung; 02 biên bản ghi lời khai và 05 bản tự khai/tường trình) “…Khi bị cáo ăn sáng tại quán của chị H khi đứng dậy thanh toán tiền tại vị trí bàn ăn ban đầu có 01 chiếc điện thoại Iphone để ngửa lên có màu vàng hồng D đã nảy sinh ý định trộm cắp chiếc điện thoại trên mang về sử dụng…sau đó khi về trả xe máy D đã lên ô tô BKS 29C- 009.86 đi chợ Thổ Tang, huyện Vĩnh Tường giao hàng… khi đến gần Chợ Thổ Tang thì chiếc điện thoại trộm cắp có cuộc gọi đến…. D không nghe máy… sau đó D dùng tay bấm vào hai bên sườn điện thoại để tắt nguồn điện thoại với mục đích không ai gọi đến được để chiến đoạt”. Tại phiên toà bị cáo trình bày khi đang đi ở trên xe ô tô thì mới biết cầm nhầm điện thoại nhưng bị cáo không ý thức quay lại quán ăn của chị H để trả lại điện thoại cũng như giao nộp cho cơ quan công an gần nhất về chiếc điện thoại trên mà đến khoảng 19 giờ tối khi có anh Nguyễn Bá G (là anh đồng hao) gọi điện thoại hỏi D có cầm điện thoại của ai ở quán ăn sáng không thì lúc này D mới có ý thức trả lại điện thoại cho bị hại và các lời khai khác thể hiện bị cáo dùng điện thoại Vivo và để trên xe ô tô không mang theo bên mình trong khi đó điện thoại của chị Hoà là điện thoại Iphone XS max là hai loại điện thoại có kiểu giáng, hình dạng, màu sắc, kích thức khác nhau. Xét thấy các lời khai ban đầu phù hợp với lời khai của người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng có trong hồ sơ về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra; phù hợp với vật chứng với kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự, thực nghiệm điều tra và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Do vậy, có đủ cơ sở kết luận: Sáng ngày 04/5/2022, tại quán ăn sáng của chị Nguyễn Thị H trong chợ Đồng Tâm, thuộc phường Đồng Tâm, thành phố Vĩnh Yên, Lê Đình D lợi dụng sơ hở trong việc quản lý tài sản của chị Nguyễn Thị Hòa, đã thực hiện hành vi trộm cắp 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone SX max của chị Hòa. Trị giá tài sản theo kết luận định giá là: 7.000.000đ.

Hành vi nêu trên của Lê Đình D đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) của Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây bất bình trong quần chúng nhân dân, ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự, trị an, an toàn xã hội. Do vậy, cần phải xử lý nghiêm D mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.

Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng , giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hô ̣i đồng xét xử nhâ ̣n thấy:

Bị cáo phạm tội theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự, có mức cao nhất của khung hình phạt đến 03 năm tù nên theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 9 của Bộ luật Hình sự thì trường hợp nêu trên thuộc tội phạm ít nghiêm trọng.

Về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá quá trình điều tra ban đầu bị cáo nhận tội nhưng tại phiên toà bị cáo không thành khẩn khai báo nên không được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51của Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng và đã tự nguyện trả lại cho bị hại tài sản đã trộm cắp, tại phiên toà người bị hại đề nghị xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, i khoản 1, khoản 2 Điều 51của Bộ luật Hình sự để Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. Song xét thấy bị cáo phạm tội tại phiên toà không thành khẩn khai báo, chứng tỏ bị cáo là người rất coi thường pháp luật.

Từ các căn cứ nêu trên, xét thấy hành vi phạm tội của bị cáo thực hiện với lỗi cố ý, nếu để cải tạo địa phương sẽ không có tác dụng giáo dục chung, cần buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù một thời gian nhất định với có tác dụng cải tạo trở thành người lương thiện, người công dân có ích cho xã hội. Do vậy, ý kiến của đại D Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Yên đề nghị phạt tù bị cáo bằng thời gian bị cáo tạm giam và trả tự do bị cáo ngay tại phiên toà nêu không phạm một tội nào khác, là phù hợp cũng đủ để răn đe bị cáo nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Ý kiến của luật sư bào chữa cho bị cáo là không có căn cứ nên không được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Đối với những người liên quan trong vụ án: Đối với Nguyễn Bá G là người cho Lê Đình D mượn xe mô tô BKS 19G-26626 do không biết D sử dụng vào việc phạm tội. Do vậy, cơ quan CSĐT Công an thành phố Vĩnh Yên không đề cập xử lý đối với anh G là phù hợp.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000đ đến 50.000.000đ. Tuy nhiên, tại phiên tòa xác định bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Trả lại bị cáo 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Vivo màu đen, có ốp lương màu vàng; 01 quần đùi vải màu vàng và 01 áp phông cộc tay màu xanh có hoạ tiết vảy sơn nhiều màu nhưng tiếp tục tạm giữ chiếc điện thoại nhãn hiệu Vivo màu đen của D để đảm bảo thi hành án.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Lê Đình D phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, i khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt bị cáo Lê Đình D 06 (tháng) 10 (mười) ngày tù (bằng thời gian bị cáo bị tạm giam). Trả tự do ngay tại phiên toà cho bị cáo đang bị tạm giam, nếu họ không bị tạm giam về một tội phạm khác.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự: Khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; trả lại bị cáo 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Vivo màu đen, có ốp lương màu vàng; 01 quần đùi vải màu vàng và 01 áp phông cộc tay màu xanh có hoạ tiết vảy sơn nhiều màu nhưng tiếp tục tạm giữ chiếc điện thoại nhãn hiệu Vivo màu đen của D để đảm bảo thi hành án. (Đặc điểm vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan điều tra và Chi cục Thi hành án thành phố Vĩnh Yên).

Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTV-QH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Lê Đình D phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ