- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn Đ, Đặng Quốc C "Gây rối trật tự công cộng" - phạm tội gây rối trật tự công cộng (điều 318 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của B…"
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 101 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DUY TIÊN TỈNH HÀ NAM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 09/2023/HSST Ngày 15 - 3 -2023 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DUY TIÊN - HÀ NAM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Tươi
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Hoằng - Cán bộ hưu phường Hòa Mạc và bà Đỗ Thị Liên - Giáo viên nghỉ hưu phường Hòa Mạc
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Lan Anh - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Duy Tiên
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duy Tiên tham gia phiên tòa: Ông Phạm Minh Tiến - Kiểm sát viên
Ngày 15 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 123/2022/TLST-HS ngày 26 tháng 12 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 07/2023/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 02 năm 2023; Quyết định hoãn phiên tòa số 04/QĐST-HS ngày 23/02/2023 đối với:
- Các bị cáo:
1. Nguyễn Văn Đ (tên gọi khác: Không), sinh ngày 18/12/2004; nơi cư trú: Thôn B, xã L, huyện K, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn D và bà Nguyễn Thị Hoài P; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; tạm giam, tạm giữ: Không. Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
2. Đặng Quốc C (tên gọi khác: Không), sinh năm1993; nơi cư trú: Thôn T, xã T, thị xã D, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Quốc K và bà Đặng Thị L; vợ: Phạm Thị M; con: 01 con sinh năm 2014; tiền án, tiền sự: Không; tạm giam, tạm giữ: Không. Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
- Người đại diện hợp pháp cho bị cáo Nguyễn Văn Đ: Ông Nguyễn Văn D, sinh năm 1981 (vắng mặt, có văn bản ủy quyền cho bà P) và bà Nguyễn Thị Hoài P, sinh năm 1981 (có mặt); Cùng nơi cư trú: Thôn B, xã L, huyện K, tỉnh Hà Nam;
- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn Đ: Bà Phạm Thị Nhàn - Trợ giúp viên pháp lý - Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Hà Nam; có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo Đặng Quốc C: Luật sư Đặng Văn C1 (có mặt) và Luật sư Hoàng Thị Hương G (vắng mặt) - Văn phòng luật sư C2 - Đoàn luật sư thành phố Hà Nội; Địa chỉ: Số 65B, phố T, phường Q, quận Đ, thành phố Hà Nội.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
+ Chị Phạm Thị M, sinh năm 1997; nơi cư trú: Thôn Q, xã T, thành phố P, tỉnh Hà Nam; có mặt.
+ Anh Bùi Đức M1, sinh ngày 27/7/2006. Người đại diện hợp pháp cho anh M1: ông Bùi Văn T sinh năm 1974 và bà Bùi Thị H, sinh năm 1977; Cùng nơi cư trú: Thôn N, xã Đ, huyện Y, tỉnh Hòa Bình, đều có mặt.
- Người làm chứng: Anh Hoàng Tiến D, anh Nghiêm Minh Th, anh Nguyễn Đại H, anh Ngô Xuân H1, anh Ngô Thể Q, anh Nguyễn Văn Đ, chị Nguyễn Thị T (đều vắng mặt). Anh Đặng Đình D1, anh Trần Văn C2, anh Phan Quốc M3 (đều có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 24/7/2022, Nguyễn Văn Đ; Bùi Đ M1, Đặng Đình D1 và 03 nam thanh niên cùng 03 người phụ nữ (chưa xác định được là ai, ở đâu) ngồi uống rượu tại quán ăn đêm K ở đường N2 thuộc tổ dân phố T, phường B, thị xã D, tỉnh Hà Nam. Đến khoảng 22 giờ 50 phút cùng ngày, sau khi uống rượu xong thì cả nhóm ra lấy xe mô tô đi về. Cùng lúc này, Đặng Quốc C điều khiển xe ô tô nhãn hiệu Kia, loại Cerato, BKS: 90A - 138.XX đi từ hướng Khu công nghiệp Đ - Đường gom cao tốc C - N đến. Do C điều khiển xe ô tô đi sát với xe mô tô của M1 nên M1 nhìn về phía C vừa đi qua. C cho rằng nhóm M1 chửi mình nên dừng lại, quay xe lại chỗ M1 rồi hạ kính ô tô xuống nói “Chúng mày chửi tao à” thì nhóm của Đ, M1 nói với C “Không, bọn em có chửi anh đâu”. Sau đó, C quay đầu xe ô tô lại, đi được khoảng 20 mét đến ngã ba giao giữa đường D5 và N2 thì C dừng xe lại, xuống xe. Nhóm của Đ, M1 liền đi bộ lại gần rồi hai bên to tiếng với nhau, Đ và C xông vào đánh nhau thì Dũng can ngăn. Sau đó, Đ cùng nhóm bạn chạy lại quán K đứng thì C điều khiển xe ô tô 90A - 138.XX quay lại quán K hạ cửa kính xe chửi nhóm của M1, Đ, thấy vậy Đ dùng chân đạp vào tay mở cửa phía bên ghế lái xe ô tô, C liền điều khiển xe ô tô đi tiếp khoảng 20 mét thì dừng lại. Đ và M1 chạy bộ đuổi theo rồi dùng tay chân đấm, đá liên tục vào vùng đầu, mặt của C qua ô cửa trước bên trái. C tiếp tục điều khiển xe quay đầu lại, lao xe về phía Đ và M1, nhằm đâm vào người Đ và M1 nhưng Đ, M1 tránh được rồi Đ và M1 dùng chân đạp vào xe của C. C điều khiển xe ô tô vòng đi vòng lại, khi nhìn thấy M1, C điều khiển xe ô tô đâm về phía M1, M1 lùi lại tránh nhưng vẫn bị phần đầu bên trái xe ô tô đâm vào chân phải nên bị ngã ra đường, C điều khiển ô tô bỏ chạy về hướng Khu công nghiệp Đ. Sau đó C tiếp tục quay lại quán K rồi dừng xe ngay trước cửa quán K. C xuống xe, hai bên tiếp tục cãi chửi nhau. Đ và M1 lao vào dùng tay chân đấm đá vào người C. C bỏ chạy nên M1 cầm 01 viên đá dạng vữa xi măng ném về phía C nhưng không trúng. C cầm 02 viên gạch quay lại để đánh nhau với Đ và M1 nhưng được mọi người can ngăn. Sau đó, có một số người điều khiển xe ô tô đến to tiếng trước cửa quán K. Đến khoảng 23 giờ 15 phút cùng ngày C đánh xe 90A - 138.XX ra khỏi hiện trường. Hậu quả: C bị sưng tím ở vùng gò má trái, mắt trái, ê buốt răng phải đi điều trị tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hà Nam đến ngày 27/7/2022 thì ra viện. M1 bị trầy xước ở vùng gót chân bên phải và đầu gối phải; Đ bị sưng tím ở vùng đỉnh đầu, cả hai vào Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hà Nam khám và đã ra viện sáng ngày 25/7/2022. Xe ô tô 90A - 138.XX bị bẹp lõm khu vực cánh cửa sau bên phải, cửa kính phía sau bên phải của xe bị rạn nứt.
Vật thu giữ gồm: 01 xe ô tô nhãn hiệu KIA, Cerato BKS: 90A - 138.XX; 01 đoạn video dài 22 phút 01 giây có hình ảnh liên quan nội dung vụ án (được trích xuất từ camera an ninh của Công an phường B, thị xã D, tỉnh Hà Nam).
Do thương tích nhẹ nên Đặng Quốc C, Nguyễn Văn Đ, Bùi Đ M1 từ chối giám định thương tích và không có yêu cầu đề nghị gì về thương tích của mình.
Tại bản kết luận định giá số 37/KL-HĐ ngày 12/8/2022 của Hội đồng định giá tài sản thị xã Duy Tiên, kết luận: Tấm kính chắn gió cửa sau bên phải của xe ô tô 90A
- 138.XX bị rạn, nứt hoàn toàn thiệt hại 1.000.000đ; cửa sau bên phải xe ô tô bị bẹp lõm vào trong có kích thước (30x28)cm thiệt hại 600.000đ. Tổng giá trị tài sản của xe ô tô 90A - 138.XX thiệt hại là 1.600.000 đồng.
Tại bản kết luận định giá số 58/KL-HĐ ngày 13/10/2022 của Hội đồng định giá tài sản thị xã Duy Tiên, kết luận: Xe ô tô nhãn hiệu KIA, loại xe Cerato màu sơn xanh, sản xuất năm 2020, đăng ký lần đầu ngày 26/02/2021 trị giá 650.000.000 đồng.
Về trách nhiệm dân sự: Nguyễn Văn Đ, Bùi Đ M1 đã bồi thường số tiền 19.000.000 đồng cho Đặng Quốc C do Đ, M1 làm hư hỏng xe ô tô của C, việc giải quyết trách nhiệm dân sự giữa các bên đã xong.
Cáo trạng số 01/CT-VKS - DT ngày 23/12/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duy Tiên truy tố bị cáo Nguyễn Văn Đ về tội: “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự; truy tố bị cáo Đặng Quốc C về tội: “Gây rối trật tự công cộng” theo khoản 1 Điều 318 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị áp dụng:
+ Điểm b khoản 2 Điều 318; điểm b, s khoản 1Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 91; Điều 101 và Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt: Nguyễn Văn Đ mức án từ 18 đến 24 tháng tù cho nhưng hưởng án treo, thời gian thử thách từ 36 đến 48 tháng.
+ Khoản 1 Điều 318; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt Đặng Quốc C mức án từ 12 đến 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 đến 30 tháng.
Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn có quan điểm về xử lý vật chứng và tuyên án phí đối với các bị cáo.
Tại phiên tòa người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn Đ phát biểu bài bào chữa, đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Bị cáo Nguyễn Văn Đ và người đại diện đồng ý với lời bào chữa, không bổ sung gì.
Tại phiên tòa người bào chữa cho bị cáo Đặng Quốc C có trình bày quan điểm mục đích bị cáo Đặng Quốc C quay xe ô tô đi lại nhiều lần tại vị trí xảy ra vụ việc để đợi công an đến nhưng tại phiên tòa qua xét hỏi và tranh luận bị cáo C và người bào chữa không chứng minh được. Trong khi đợi công an bị cáo C lại thực hiện nhiều hành vi vi phạm pháp luật như đâm xe vào anh Bùi Đức M1 và thực hiện nhiều hành vi xảy ra khác gây ảnh hưởng đến trật tự công cộng. Tại phiên tòa bị cáo C còn cung cấp tài liệu là bản phô tô báo giá sửa chữa xe ô tô đề ngày 08/12/2022 của Công ty TNHH một thành viên T - Hà Nam nhưng qua xét hỏi và tranh luận bị cáo khẳng định việc báo giá xe ô tô trên là thông qua việc bị cáo cung cấp các hình ảnh thiệt hại của xe là không có căn cứ, vì quá trình điều tra Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự thị xã Duy Tiên đã căn cứ qua khảo sát thực tế và phiếu khảo sát của một số gara trên địa bàn nên không có căn cứ chấp nhận quan điểm này của bị cáo. Vì vậy yêu cầu trả hồ sơ để điều tra bổ sung theo yêu cầu của bị cáo C và người bào chữa cho bị cáo là không được chấp nhận.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là chị Phạm Thị M, anh Bùi Đức M1 và người đại diện hợp pháp cho anh M1 có mặt tại phiên tòa nhưng không có tranh luận gì.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về các hành vi, quyết định đó. Do đó, HĐXX xác định các hành vi, quyết định tố tụng của các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án là hợp pháp.
Về tội danh: Xét lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 22 giờ 55 phút ngày 24/7/2022 tại đường N2 thuộc tổ dân phố T, phường B, thị xã D, tỉnh Hà Nam, Đặng Quốc C điều khiển xe ô tô BKS: 90A - 138.XX đi hướng Khu công nghiệp Đ - đường gom cao tốc, khi đi đến trước cửa quán K, C điều khiển xe ô tô sát xe mô tô của nhóm Nguyễn Văn Đ, Bùi Đức M1 đang dừng ven đường. Cho rằng nhóm của M1 chửi mình nên C dừng lại rồi điều khiển xe ô tô quay lại chỗ M1 và Đ đang đứng hỏi thì nhóm của M1 trả lời không chửi C nên C quay xe lại đi về hướng đường gom cao tốc. Khi đi đến ngã ba giữa đường N2 và D5, cách vị trí quán K khoảng 20m, C dừng xe lại, thấy vậy Đ và M1 chạy lại chỗ xe C dừng. Hai bên xảy ra xô xát đánh cãi chửi nhau. Sau đó, Đ, M1 chạy về cửa quán K thì C điều khiển xe ô tô BKS 90A - 138.XX vòng đi, vòng lại nhiều lần, cố tình lao xe vào Đ và M1, còn Đ và M1 dùng tay, chân đánh C và đập phá cánh cửa và cửa kính xe ô tô của C. Sự việc đến khoảng 23 giờ 15 phút cùng ngày thì kết thúc, do được mọi người can ngăn. Hậu quả: Bùi Đ M1 bị thương nhẹ ở chân do xe ô tô của C đâm vào; Nguyễn Văn Đ bị thương nhẹ ở đỉnh đầu do đánh nhau với C; Đặng Quốc C bị thương nhẹ do Đ và M1 đánh; Xe ô tô của C bị hư hỏng do Đ và M1 dùng chân tay đập phá, thiệt hại 1.600.000đ. Sự việc diễn ra vào 23 giờ đêm, trong khoảng 20 phút, khu vực gần Khu công nghiệp, đông dân cư, có nhiều cửa hàng đang kinh doanh, có đông khách hàng, các đối tượng đuổi đánh, cãi chửi nhau, dùng xe ô tô lao vào người làm náo loạn khu phố, gây mất trật tự khu dân cư, gây tâm lý lo sợ bức xúc trong nhân dân, gây ách tắc giao thông, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự trên địa bàn.
Hành vi nêu trên của các bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, gây hoảng sợ, tâm lý hoang mang cho những người dân xung quanh, làm rối loạn hoạt động bình thường nơi công cộng, hành vi cố ý phá vỡ tình trạng ổn định, có tổ chức, có kỷ luật ở nơi công cộng, trực tiếp xâm phạm trật tự công cộng, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Trong quá trình thực hiện hành vi gây rối trật tự công cộng bị cáo Nguyễn Văn Đ có hành vi phá phách tài sản nên đủ yếu tố cấu thành tội: “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự. Bị cáo Đặng Quốc C có hành vi điều khiển xe ô tô 90A - 138. XX quay đi lại nhiều lần, cầm hung khí là gạch nhưng được mọi người can ngăn nên chưa sử dụng đủ yếu tố cấu thành tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại khoản 1 Điều 318 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố các bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Xét vai trò của các bị cáo: vụ án này thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn, bị cáo Nguyễn Văn Đ, Đặng Quốc C cùng trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội.
Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về nhân thân: Các bị cáo có nhân thân tốt.
Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn Đ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo đã khắc phục hậu quả thiệt hại của xe ô tô của Đặng Quốc C nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Ngoài ra, khi thực hiện tội phạm, bị cáo Nguyễn Văn Đ đã đủ 16 tuổi nhưng chưa đủ 18 tuổi nên bị cáo còn được áp dụng quy định của pháp luật đối với người dưới 18 tuổi phạm tội.
Đối với bị cáo Đặng Quốc C: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đều thành khẩn khai báo về toàn bộ hành vi, sự việc xảy ra, đã nhận thức được việc làm của mình là sai nhưng bị cáo cho rằng với hành vi trên của mình chưa đến mức phải xử lý hình sự và có quan điểm lỗi xảy ra sự việc là do phía bị cáo Đ và anh M1. Do vậy HĐXX vẫn đánh giá bị cáo C đã thành khẩn khai báo hành vi của mình nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Ngoài ra bị cáo C còn được áp dụng tình tiết giảm nhẹ phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về hình phạt: Từ nhận định trên xét thấy chỉ vì những mâu thuẫn nhỏ nhưng các bị cáo thiếu kiềm chế, lựa chọn cách xử sự không phù hợp, vi phạm pháp luật vì thế cần phải ấn định mức hình phạt phù hợp để giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung. Xét thấy các bị cáo Nguyễn Văn Đ, Đặng Quốc C có nhân thân tốt, được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng vì vậy không cần phải cách ly khỏi xã hội mà cho các bị cáo cải tạo tại địa phương tạo điều kiện cho bị cáo cải sửa mình.
Về hành vi khác; đối tượng khác: Trong vụ án này, các đối tượng có hành vi đánh nhau, gây thương tích nhẹ song Đặng Quốc C, Nguyễn Văn Đ và anh Bùi Đức M1 từ chối giám định thương tích và không có yêu cầu đề nghị gì về thương tích của mình nên HĐXX không đặt ra giải quyết.
Đối với Bùi Đức M1 có hành vi đánh cãi chửi nhau, gây mất an ninh trật tự và làm hư hỏng xe ô tô 90A - 138.XX (định giá 1.600.000đ): Do thiệt hại xảy ra dưới 2.000.000đ, M1 chưa có tiền án, tiền sự; khi thực hiện hành vi M1 mới 15 tuổi 11 tháng 27 ngày (chưa đủ 16 tuổi) nên hành vi của M1 không đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” và “Gây rối trật tự công cộng” là đúng pháp luật.
Đối với hành vi Cố ý làm hư hỏng tài sản của Nguyễn Văn Đ, Công an thị xã Duy Tiên đã ra Quyết định số 180/QĐ-XPHC ngày 25/11/2022 xử phạt vi phạm hành chính đối với Đ, nhưng Đ chưa thi hành. Đến ngày 19/12/2022 Công an thị xã Duy Tiên đã ra Quyết định số 82 ngày 19/12/2022 hủy bỏ Quyết định xử phạt vi phạm hành chính nêu trên là có căn cứ.
Về trách nhiệm dân sự: Nguyễn Văn Đ, Bùi Đức M1 đã bồi thường số tiền 19.000.000 đồng cho Đặng Quốc C do Đ, M1 làm hư hỏng xe ô tô của C, việc giải quyết trách nhiệm dân sự giữa các bên đã xong nên HĐXX không đặt ra xem xét.
Về vật chứng vụ án:
Đối với 01 đoạn video dài 22 phút 01 giây có hình ảnh liên quan nội dung vụ án, được trích xuất từ camera an ninh của Công an phường Bạch Thượng, thị xã Duy Tiên được lưu hồ sơ vụ án.
Đối với 01 xe ô tô nhãn hiệu KIA, Cerato BKS: 90A - 138.XX mà bị cáo Đặng Quốc C sử dụng làm phương tiện phạm tội, trị giá 650.000.000đ. Qúa trình điều tra xác định đây là tài sản chung của vợ chồng (giữa bị cáo C với vợ là chị Phạm Thị M). Bị cáo C đã sử dụng xe ô tô trên là phương tiện phạm tội nhưng chị M không biết việc làm này của bị cáo. Do đó HĐXX tịch thu ½ giá trị chiếc xe để sung ngân sách nhà nước, tương đương số tiền là 325.000.000đ; trả lại chị Phạm Thị M ½ giá trị chiếc xe tương đương số tiền là 325.000.000đ là có căn cứ.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo phải nộp theo quy định.
Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, đương sự thực hiện quyền kháng cáo theo quy định.
Từ nhận định trên:
QUYẾT ĐỊNH
1. Về hình sự:
Căn cứ:
+ Điểm b khoản 2 Điều 318; điểm b, s khoản 1Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 90; Điều 91; Điều 101 và Điều 65 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Văn Đ.
+ Khoản 1 Điều 318; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Đặng Quốc C.
Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Văn Đ và Đặng Quốc C phạm tội: “Gây rối trật tự công cộng”.
Xử phạt:
- Bị cáo Nguyễn Văn Đ 18 (mười tám) tháng tù nhưng cho hưởng án. Thời gian thử thách là 36 (ba sáu) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 15/3/2023).
- Bị cáo Đặng Quốc C 12 (mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án. Thời gian thử thách là 24 (hai tư) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 15/3/2023).
Giao bị cáo Nguyễn Văn Đ cho Ủy ban nhân dân xã L, huyện K, tỉnh Hà Nam; giao bị cáo Đặng Quốc C cho Ủy ban nhân dân xã T, thị xã D, tỉnh Hà Nam tiếp tục giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước tổng hợp với hình phạt của bản án mới.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điều 47 Bộ luật hình sự và điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- Tịch thu sung ngân sách Nhà nước ½ giá trị chiếc xe ô tô nhãn hiệu Kia Cerato BKS: 90A - 138.XX trị giá 325.000.000đ (Ba trăm hai mươi lăm triệu đồng).
- Trả lại chị Phạm Thị M ½ giá trị chiếc xe ô tô nhãn hiệu Kia Cerato BKS: 90A - 138.XX trị giá 325.000.000đ (Ba trăm hai mươi lăm triệu đồng).
(Đặc điểm vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan điều tra công an thị xã Duy Tiên và Chi cục thi hành án dân sự thị xã Duy Tiên ngày 26/12/2022).
3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội buộc các bị cáo Nguyễn Văn Đ và Đặng Quốc C mỗi bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm: 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng).
4. Báo cho các bị cáo; người bào chữa, người đại diện hợp pháp cho bị cáo Đ; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - TAND tối cao; - TAND tỉnh Hà Nam; - VKSND tỉnh Hà Nam; - CQCSĐT CA thị xã Duy Tiên; - CQTHAHS Công an thị xã Duy Tiên; - VKSND thị xã Duy Tiên; - Chi cục THADS thị xã Duy Tiên; - Sở tư pháp tỉnh Hà Nam; - Các bị cáo; đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Tƣơi |