vanban.org

Bản án 09/2023/HSST — Hình sự

TAND huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai Tuyên án 27/03/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố các bị cáo Lê Đức T phạm tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Áp dụng: Khoản 1 Điều 174; điểm h, s, i khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Phạt bị cáo Lê Đức T 01 năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt kể từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 24/12/2022. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Lê Đức T phạm tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BẢO YÊN
TỈNH LÀO CAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 09/2023/HSST
Ngày 27 tháng 3 năm 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẢO YÊN - TỈNH LÀO CAI

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Quang Đại.

Các hội thẩm nhân dân:

1. Bà Phạm Thị Dung;

2. Bà Đinh Thị Út.

Thư ký phiên tòa: Ông Lê Mạnh Tuấn - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hạnh - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 04/2023/TLST-HS, ngày 07 tháng 3 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 04/2023/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 3 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Bảo Yên, đối với bị cáo:

Lê Đức T - Sinh ngày: 07 tháng 7 năm 2004, tại: Thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa; Nơi ĐKHKTT: Thôn LP, xã NH, huyện Thanh Trì, Hà Nội; Không xác định được nơi ở hiện tại; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa 9/12; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Đức N và bà Lương Thị Thanh N; Vợ, con: Chưa có; Tiền án tiền sự: chưa có; Bị bắt tạm giữ từ ngày 24/12/2022 đến ngày 30/12/2022, bị tạm giam từ ngày 30/12/2022 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Bảo Yên - Có mặt.

- Những người bị hại:

1. Nguyễn Thị Thu H- simh năm 1983

2. Đỗ Khắc C - sinh năm 1983.

Cùng trú tại Bản Lâm Sản, xã BH, huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai.

Người được chị H ủy quyền tham gia tố tụng: Anh Đỗ Khắc C – Có đơn xin xét xử vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11 giờ ngày 23/12/2022 Lê Đức T, điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave BKS 30Z5-2427 của Tuấn đi từ Hà Nội lên tỉnh Sơn La để gặp bạn. Khoảng 17 giờ cùng ngày Tuấn đi đến xã BH, huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai, Tuấn ăn cơm và thuê phòng nghỉ tại khu vực ga BH. Đến 08 giờ ngày 24/12/2022 Tuấn trả phòng sau đó điều khiển xe đi tìm quán ăn sáng, Tuấn điều khiển xe đi theo QL 279 hướng ra xã TA, Văn Bàn dừng xe trước cửa quán Tiến Vân, tại bản Lâm Sản, xã BH, huyện Bảo Yên thì nhìn thấy cửa hàng xe máy Mạnh C phía đối diện trước cửa có nhiều xe máy nên Tuấn nảy sinh ý định lừa đảo chiếm đoạt xe máy của cửa hàng để làm phương tiện đi lại do xe máy của Tuấn đã cũ. Quan sát phía trong cửa hàng có người, Tuấn điều khiển xe đến trước của hàng xe máy Mạnh C rồi tắt máy để xe ở lề đường phía trước cửa quán, xong Tuấn đi bộ vào bên trong cửa hàng thì gặp anh Đỗ Khắc C, sinh năm 1982, trú tại thôn TA 2, xã TA, huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai (là chủ cửa hàng) Tuấn liền hỏi “Cửa hàng có xe côn cũ không” anh C trả lời “Mua xe gì” Tuấn nói “Winner X hoặc Exciter” anh C dẫn Tuấn đến vị trí để chiếc xe nhãn hiệu Honda Winner X màu xanh đen bạc BKS 24B2-835.19 và chiếc xe Exciter, Tuấn hỏi giá thì anh C báo giá xe Winner X có giá 20.000.0000đ còn xe Exciter có giá 25.000.000đ. Tuấn nói em muốn đi thử xe, anh C đồng ý và lấy chìa khóa xe Winner X đưa cho Tuấn, Tuấn đi thử chiếc xe Winner X về hướng TA, Văn Bàn khoảng 300m sau đó quay lại đi qua cửa hàng 200m thì quay lại cửa hàng trả xe và nói với anh C cho em đi thử xe Exciter, anh C đồng ý và lấy chìa khóa xe Exciter đưa cho Tuấn, Tuấn điều khiển xe Exciter đi một vòng rồi quay lại cửa hàng bảo anh C cho Tuấn đi thử lại một lần nữa chiếc xe nhãn hiệu Honda Winner X màu xanh đen bạc BKS 24B2-835.19, anh C đồng ý, Tuấn liền nổ máy xe Honda Winner X màu xanh đen bạc đi về hướng ga BH đi theo đường tỉnh lộ 161 để mang xe bỏ trốn về Hà Nội. Sau khi Tuấn điều khiển xe Honda Winner X màu xanh đen bạc BKS 24B2-835.19 đi được khoảng 15 phút không thấy Tuấn quay lại cửa hàng, anh C đến Công an xã BH trình báo vụ việc. Công an xã BH tổ chức lực lượng truy tìm, khi đến thôn Nghĩa Dũng, xã Lang Thíp, huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái thì bị lực lượng công an xã BH phát hiện Tuấn đang điều khiển xe Winner X màu xanh đen bạc BKS 24B2-835.19. Công an xã BH tiến hành mời Tuấn về trụ sở để làm việc, Tuấn đã khai nhận toàn bộ hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của mình .

Tại bản Kết luận định giá tài sản số: 19/2022/KL-HĐĐG ngày 28/12/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Bảo Yên kết luận: Gía trị xe mô tô nhãn hiệu Honda Winner, màu xanh, đen, bạc, BKS: 24B2-835.19 tại thời điểm ngày 24/12/2022 là 20.000.000đ (Hai mươi triệu đồng).

Tại cáo trạng số: 04/CT-VKSBY ngày 06 tháng 3 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Yên đã truy tố bị cáo Lê Đức T về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát đề N: Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 174; điểm h, s, i khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Phạt bị cáo Lê Đức T từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt kể từ ngày bị cáo bị tạm giữ.

Về vật chứng: Xử lý vật chứng:

+ Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự trả lại bị cáo 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda wave BKS 30 Z5 – 2427

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Hành vi, Quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi tố tụng và Quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận: Khoản 8 h ngày 24 tháng 12 năm 2022 bị cáo điều khiển xe mô tô BKS 30 Z5 – 2427 theo QL 279 hướng BH - TA. Khi đến quán ăn sáng Tiến Vân tại bản Lâm Sản, BH bị cáo nhìn thấy cửa hàng xe mô tô của anh Nguyễn Mạnh C phía đối diện trước cửa có nhiều xe mô tô, lúc này bị cáo nảy sinh ý định chiếm đoạt xe mô tô của anh C. Bị cáo đã vào quán gặp anh C đặt vấn đề mua xe của anh C. Anh C nhất trí sau đó bị cáo đề N được đi thử xe. Bị cáo đi thử trước xe mô tô Honda Winnner BKS 24B2-835.19 lần 1 đi được khoảng 500 m thì quay về trả xe cho anh C. Sau đó bị cáo đi thử xe Exciter đi được một vòng bị cáo quay lại trả anh C và đề N đi thử lại chiếc xe Honda Winner X BKS 24B2-835.19 lần 2. Được anh C đồng ý bị cáo đã đi xe theo đường tỉnh lộ 161 hướng BH – Lang Thíp, Văn Yên, Yên Bái. Đối với anh C thấy bị cáo Tuấn đi xe lâu không quay trở lại nên đã ra trình báo tại Công an xã BH.

Nhận tin báo Công an xã BH đã tổ chức truy tìm và đã phát hiện bị cáo đang điều khiển xe mô tô Honda Winner X BKS 24B2-835.19 tại địa phận thôn Nghĩa Dũng, xã Lang Thíp, huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái. Tại Công an xã BH bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các biên bản hỏi cung và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ.

Bị cáo với mục đích chiếm đoạt xe mô tô làm phương tiện đi lại bị cáo Lê Đức T đã vào quán bán xe mô tô của anh C và chị H nói với anh C là mua xe, sau đó bị cáo đã đề N anh C cho đi thử chiếc xe mô tô Honda Winner X BKS 24B2-835.19 bị cáo đã điều khiển xe đi từ xã BH theo tỉnh lộ 161 theo hướng BH - Yên Bái và bị Công an xã BH phát hiện đưa về trụ sở UBND xã BH làm việc.

Vì vậy đã có đủ cơ sở để xác định các bị cáo phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự. Một lần nữa khẳng định Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến tài sản của anh C, chị H làm ảnh hưởng đến an ninh chính trị địa phương. Trong quá trình điều tra cơ quan điều tra đã xác định được bị cáo thường xuyên vắng mặt tại địa phương. Việc bị cáo thường xuyên vắng mặt tại địa phương sẽ dẫn đến chính quyền xã không quản lý được. Cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục riêng đối với bị cáo và phong ngừa chung.

Trong quá trình điều tra, truy tố, bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tài sản bị cáo chiếm đoạt giá trị không lớn, những người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Cần xem xét áp dụng các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại các điểm h, s, i khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Về hình phạt bổ sung, bị cáo không có việc làm ổn định, không có tài sản.

Vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Chiếc xe mô tô xe mô tô Honda Winner X BKS 24B2-835.19 bị cáo đã chiếm đoạt của các bị hại (Anh C, chị H). Trong quá trình điều tra cơ quan điều tra đã trả lại anh C và chị H đồng thời các bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm nên không đề cập giải quyết.

Vật chứng vụ án:

- 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave BKS 30Z5-2427 của Tuấn là tài sản của bị cáo. Bị cáo không dùng xe này để làm công cụ phương tiện phạm tội. Cần trả lại cho bị cáo là phù hợp.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố các bị cáo Lê Đức T phạm tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Áp dụng: Khoản 1 Điều 174; điểm h, s, i khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Phạt bị cáo Lê Đức T 01 năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt kể từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 24/12/2022.

2. Về vật chứng:

Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Trả lại anh bị cáo Lê Đức T 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave BKS 30Z5-2427.

3. Về án phí:

Áp dụng Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, N quyết số: 326/ 2016/ UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016.

Bị cáo Lê Đức T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, Những người bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.

Cỡ chữ