- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Tuấn A phạm tội - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trần Tuấn Anh phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự - Xác nhận anh Nguyễn Văn Huynh
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ TỈNH PHÚ THỌ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 09/2023/HS-ST Ngày 13/02/2023 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ, PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lương Ngọc Dũng
Các Hội thẩm nhân dân: 1.Ông Trần Đình Đậu;
2.Bà Vũ Thị Thái Hòa.
- Thƣ ký phiên toà: Bà Trần Thị Lan Anh - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì tham gia phiên toà: Bà Đỗ Thị Thanh Vân - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 02 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ, xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 04/2023/TLST-HS ngày 13 tháng 01 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:07/2023/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 01 năm 2023 đối với bị cáo:
TRẦN TUẤN A - sinh ngày 13/6/1994 tại xã Hà Thạch, thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ. Nơi cư trú: khu Lũng Thượng, xã Hà Thạch, thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ; Nghề nghiệp: lao động tự do; Trình độ văn hoá: 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Văn Tuấn - sinh năm 1970 và con bà Lương Thị Thưởng - sinh năm 1969; Bị cáo chưa có vợ con; Tiền sự: Không; Tiền án: Bản án số 54/2015/HS-ST ngày 28/9/2015, Tòa án nhân dân huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ xử phạt Trần Tuấn Anh 15 (mười lăm) tháng cải tạo không giam giữ về tội “Trộm cắp tài sản”, giá trị tài sản trộm cắp: 29.400.000đ (Hai mươi chín triệu bốn trăm nghìn đồng). Nộp án phí ngày 06/11/2015. Bị can chấp hành xong hình phạt cải tạo không giam giữ ngày 13/9/2017; Bản án số 03/2018/HSST ngày 29/01/2018, Tòa án nhân dân thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ xử phạt Trần Tuấn Anh 12 (mười hai) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, giá trị tài sản trộm cắp: 40.800.000đ ( Bốn mươi triệu tám trăm nghìn đồng). Nộp án phí ngày 03/5/2018. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 06/10/2018; Bản án số 134/HSST ngày 03/10/2019, Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ xử phạt Trấn Tuấn Anh 38 (ba mươi tám) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, giá trị tài sản trộm cắp: 28.100.000đ ( Hai mươi tám triệu một trăm nghìn đồng). Nộp án phí ngày 09/10/2019. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 12/7/2022.
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 09/11/2022, chuyển tạm giam từ ngày 11/11/2022, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Phú Thọ, có mặt.
- Người bị hại:
1. Anh Nguyễn Văn Huynh - sinh năm 1995; địa chỉ: khu 2, xã Kim Đức, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ, vắng mặt.
2. Chị Nguyễn Thị Hằng - sinh năm 1997; địa chỉ: khu 5, xã Văn Khê, huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội, vắng mắt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Chiều ngày 08/11/2022, Trần Tuấn Anh điều khiển xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA EXCITER biển kiểm soát: 19M1 – 246.07 đến ăn cưới anh Nguyễn Văn Huynh tại khu 2, xã Kim Đức, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ. Khoảng 19 giờ cùng ngày, trước cổng đám cưới nhà anh Huynh có xảy ra mâu thuẫn cãi nhau nên mọi người trong đám cưới đều ra để can ngăn chỉ còn một mình Tuấn Anh ngồi trong rạp đám cưới, Tuấn Anh quan sát thấy thùng đựng phong bì bằng giấy bên trong có tiền mừng đám cưới của anh Huynh đang để trên bàn trước hiên nhà không có ai trông giữ nên đã nảy sinh ý định trộm cắp tiền trong phong bì để tiêu sài cá nhân. Tuấn Anh ôm thùng đựng phong bì vào phòng ngủ của anh Huynh và để trên giường. Tại đây, Tuấn Anh dùng tay đập thủng mặt trước của thùng đựng phong bì sau đó lấy toàn bộ số phong bì có tiền mừng đám cưới ở trong thùng đúc vào trong 01 chiếc túi nilon màu đen lấy tại phòng anh Huynh. Sau đó, Tuấn Anh đi sang phòng ngủ của bố mẹ anh Huynh phát hiện thấy 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 PROMAX 64GB số IMEI:353899101567905, màu đen xám, có kèm theo SIM số 0966.282.730 của chị Nguyễn Thị Hằng, sinh năm 1997, HKTT: Khu 5, xã Văn Khê, huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội (là em gái của anh Huynh) đang sạc ở trên giường. Tuấn Anh lấy điện thoại cho vào túi nilon đen cùng với số phong bì đã trộm cắp trước đó rồi đi ra lối cửa sau, trèo tường rào ra ngoài lấy xe mô tô chạy trốn. Trên đường chạy trốn, Tuấn Anh nhận được cuộc gọi của anh Huynh qua mạng xã hội Facebook thông báo anh Huynh đã biết việc Tuấn Anh trộm cắp tài sản và yêu cầu Tuấn Anh hoàn trả toàn bộ số tài sản trên. Tuấn Anh đã lấy một số phong bì có tiền trong túi nilon cất vào túi áo khoác của mình. Số phong bì còn lại cùng chiếc điện thoại di động của chị Hằng, Tuấn Anh mang đến khu vực ngã ba cổng đá Đền Hùng thuộc phường Vân Phú, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ gặp anh Nguyễn Đức Thế, sinh năm 1987, HKTT: Khu 7, xã Hy Cương, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ là lái xe taxi đang dừng xe chờ khách và nhờ anh Thế mang trả túi nilon bên trong có phong bì tiền mừng đám cưới và điện thoại cho người nhà anh Huynh (Tuấn Anh nói với anh Thế đây là quần áo, anh Thế không biết đây là tài sản do Tuấn Anh trộm cắp mà có). Sau khi nhận được túi nilon mà Tuấn Anh đưa, anh Thế đã đưa lại cho anh Nguyễn Văn Huy, sinh năm 1991, HKTT: Khu 2, xã Kim Đức, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ (là anh họ của anh Huynh). Anh Huy giao nộp toàn bộ phong bì có tiền mừng đám cưới và chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 PROMAX 64GB số IMEI:353899101567905 màu đen xám có kèm theo SIM số 0966.282.730 cho Cơ quan Công an. Cơ quan chức năng cùng với đại diện gia đình, người chứng kiến đã tiến hành kiểm đếm phong bì xác định có 296 chiếc phong bì với tổng số tiền là: 66.500.000đ (Sáu mươi sáu triệu năm trăm nghìn đồng). Số phong bì đã lấy lại trước đó, Tuấn Anh mang đến đoạn đường thuộc khu 2, xã Hy Cương, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ đếm được 54 chiếc phong bì, Tuấn Anh xé phong bì ra đếm được số tiền là: 11.800.000 đồng (Mười một triệu tám trăm nghìn đồng) rồi cất vào túi áo và đi về nhà.
Ngày 09/11/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an thành phố Việt Trì triệu tập Trần Tuấn Anh đến để làm việc. Quá trình làm việc, Trần Tuấn Anh thừa nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản của bản thân như trên, đồng thời giao nộp số tiền 11.800.000 đồng (Mười một triệu tám trăm nghìn đồng) và 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S Plus màu vàng, đã qua sử dụng, số IMEI: 358624071059823 lắp Sim số 0944113268 (là điện thoại của Tuấn Anh).
Ngày 09/11/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an thành phố Việt Trì ra Yêu cầu định giá tài sản đối với chiếc điện thoại di động Trần Tuấn Anh đã trộm cắp của chị Nguyễn Thị Hằng. Tại bản Kết luận định giá tài sản số 1181/KL-HĐĐGTS ngày 11/11/2022 của Hội đồng định giá tài sản Ủy ban nhân dân thành phố Việt Trì kết luận:
“a. Giá 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 11 PROMAX 64GB, màu đen xám, số IMEI: 353899101567905, đã qua sử dụng, có giá là: 11.000.000 đồng.
b. Giá 01 chiếc sim số của nhà mạng VIETTEL, đã qua sử dụng, có giá là: 50.000 đồng.
Tổng cộng: (a+b): 11.000.000đ + 50.000đ = 11.050.000 đ. (Mười một triệu không trăm năm mươi nghìn đồng).”
Tại Cơ quan điều tra, Trần Tuấn Anh đã khai nhận hành vi trộm cắp tài sản của mình như đã nêu trên. Lời khai của Tuấn Anh phù hợp với vật chứng của vụ án, lời khai của các bị hại và các tài liệu trong hồ sơ vụ án.
Cáo trạng số: 05/CT-VKS-HS ngày 12/01/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì đã quyết định truy tố bị cáo Trần Tuấn Anh về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm c,g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c,g khoản 2 Điều 173; điểm b,s khoản 1, Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Trần Tuấn Anh từ 36 đến 42 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 09/11/2022; Về xử lý vật chứng: áp dụng khoản 2 Điều 47 BLHS, điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, xác nhận anh Nguyễn Văn Huynh đã nhận lại tài sản là số tiền 11.800.000đồng do Cơ quan cảnh sát điều tra, Công an thành phố Việt trì trả lại ngày 11/11/2022 và chị Nguyễn Thị Hằng đã nhận lại tài sản là 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 PROMAX 64GB số IMEI:353899101567905, màu đen xám, kèm theo SIM số 0966.282.730 do Cơ quan cảnh sát điều tra, Công an thành phố Việt trì trả lại ngày 11/11/2022; Trả lại cho bị cáo Trần Tuấn Anh 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S Plus màu vàng, đã qua sử dụng, số IMEI: 358624071059823 lắp Sim số 0944113268, nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án; Về án phí bị cáo Tuấn Anh phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng đã nêu, không có ý kiến gì về quyết định truy tố và không tranh luận gì với bản luận tội của Viện kiểm sát về tội danh, hình phạt và các vấn đề khác. Bị cáo đề nghị HĐXX xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất để có cơ hội sửa chữa tội lỗi của mình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Các quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Việt Trì, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến gì hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Về những căn cứ xác định có tội, chứng cứ xác định không có tội: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Tuấn Anh đã khai nhận hành vi phạm tội, phù hợp với lời khai của người bị hại, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác được thu thập có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở để khẳng định: Khoảng 19 giờ, ngày 11/8/2022, tại khu 2, xã Kim Đức, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ, Trần Tuấn Anh đã thực hiện hành vi trộm cắp số tiền 78.300.000đ (Bảy mươi tám triệu ba trăm nghìn đồng) của anh Nguyễn Văn Huynh và 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 PROMAX 64GB số IMEI:353899101567905 màu đen xám có kèm theo SIM số 0966.282.730 của chị Nguyễn Thị Hằng trị giá 11.000.000 đồng (Mười một triệu đồng). Tổng giá trị tài sản Trần Tuấn Anh trộm cắp là 89.300.000đ (Tám mươi chín triệu ba trăm nghìn đồng). Tài sản trộm cắp đã được thu hồi, trả lại cho các bị hại. Do trước lần phạm tội này, Trần Tuấn Anh đã có 03 (ba) tiền án, trong đó Bản án số 134/HSST ngày 03/10/2019, Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ xác định Tuấn Anh “tái phạm nguy hiểm”, chưa được xoá án tích, nay lại phạm tội lỗi cố ý, trị giá tài sản là 89.300.000 đồng. Do vậy, lần phạm tội này Tuấn Anh phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “Trộm cắp tài sản” với 02 tình tiết định khung hình phạt quy định tại điểm c, g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Do đó bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Điều 173 Bộ luật Hình sự quy định:
“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm. ….
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:
…
c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;
…
g) Tái phạm nguy hiểm.”
. Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Bị cáo phạm tội với lỗi cố ý. Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của bị hại, gây mất trật tự trị an ở địa phương, quần chúng nhận dân bất bình, nên cần phải xử phạt nghiêm để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
. Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân bị cáo: Bị cáo có nhân thân xấu có 03 tiền án, nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học cho mình, muốn có tiền tiêu sài, nhưng không chịu kiếm tiền chính đáng, bị cáo nhận thức được hành vi của mình, nhưng coi thường pháp luật, coi thường quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Nên bị cáo phải bị xử phạt tương xứng với hành vi bị cáo gây ra. Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả; người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải được quy định tại điểm b,s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Nên khi lượng hình cần xem xét hình phạt cho phù hợp với hành vi phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.
Sau khi xem xét, đánh giá tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy cần cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giảm dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
. Về hình phạt bổ sung:
Khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự còn quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000đồng đến 50.000.000đồng”, Nhưng qua xác minh của Cơ quan điều tra Công an thành phố Việt Trì thì thấy bị cáo Tuấn Anh, không có tài sản riêng, không có thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Tuấn Anh.
Về xử lý vật chứng: Bị hại đã nhận được tài sản do bị cáo trộm cắp, bị hại không yêu cầu bồi thường gì nên HĐXX không xem xét, nhưng cần xác nhận tài sản bị hại đã nhận. 01 chiếc điện thoại bên trong có sim thu giữ của bị cáo không liên quan đến tội phạm, nên trả lại cho bị cáo, nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Các vấn đề khác:
Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA EXCITER BKS: 19M1 - 246.07 mà Trần Tuấn Anh sử dụng để đi ăn cưới, Cơ quan điều tra đã xác định đây là tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của bà Lương Thị Thưởng là mẹ đẻ của Trần Tuấn Anh. Việc Tuấn Anh thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, bà Thưởng không biết và không được hưởng lợi gì nên cơ quan điều tra không thu giữ và không đề cập xử lý đối với bà Thưởng là phù hợp.
. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Đối với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì là phù hợp, nên cần chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c,g khoản 2 Điều 173, điểm b, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự; Điều 331, Điều 333, Điều 336 Bộ luật Tố tụng hình sự
1. Tuyên bố: Bị cáo Trần Tuấn Anh phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Trần Tuấn Anh 36 (Ba mươi sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 09 tháng 11 năm 2022.
Không áp dụng hình phạt bổ sung với bị cáo Trần Tuấn Anh.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 2 Điều 47 BLHS, điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự
- Xác nhận anh Nguyễn Văn Huynh đã nhận lại tài sản là số tiền 11.800.000đ (Mười một triệu tám trăm nghìn đồng) do Cơ quan cảnh sát điều tra, Công an thành phố Việt trì trả lại ngày 11/11/2022 và chị Nguyễn Thị Hằng đã nhận lại tài sản là 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 PROMAX 64GB số IMEI:353899101567905, màu đen xám, kèm theo SIM số 0966.282.730 do Cơ quan cảnh sát điều tra, Công an thành phố Việt trì trả lại ngày 11/11/2022.
- Trả lại cho bị cáo Trần Tuấn Anh 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S Plus màu vàng, đã qua sử dụng, số IMEI: 358624071059823 lắp Sim số 0944113268, nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
(Theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng đến Chi cục thi hành án dân sự thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ ngày 13/01/2023 ).
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Trần Tuấn Anh phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo, được quyền kháng cáo để yêu cầu xét xử phúc thẩm, người bị hại được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được giao cho họ, hoặc được niêm yết.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Phú Thọ; - VKSND TP Việt Trì; - Bị cáo; Người bị hại; - Cơ quan CSĐT CATP Việt Trì; - Cơ quan Thi hành án hình sự; - Chi cục THA dân sự TP Việt Trì; - Lưu HS; - Lưu VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lƣơng Ngọc Dũng |