vanban.org

Bản án 09/2023/HS-ST — Hình sự

TAND tỉnh Ninh Bình Tuyên án 21/03/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: bị cáo Trịnh Xuân Q phạm tội “Giết người” (chưa đạt).

Xử phạt bị cáo Trịnh Xuân Q 10 (mười) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ 24/8/2022. Về xử lý vật chứng: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trịnh Xuân Q phạm tội Giết người - phạm tội giết người (điều 123 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: bị cáo Trịnh Xuân Q phạm tội “Giết người” (chưa đạt).
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 57 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH NINH BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 09/2023/HS-ST
Ngày 21 - 3 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Tô Văn Thịnh

Thẩm phán:

Ông Nguyễn Đức Hiệp

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Xuân Đang

Bà Trần Thị Kim Dung

Ông Phạm Ngọc Quang

- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thị Hoài Thu - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Bình

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình tham gia phiên tòa: Ông Tạ Đức Vọng - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 3 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 40/2022/TLST-HS ngày 28 tháng 12 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2023/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 3 năm 2023 đối với bị cáo:

Trịnh Xuân Q, sinh năm 2002 tại huyện N, tỉnh Ninh Bình; nơi cư trú: Thôn …, xã P, huyện N , tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp khi phạm tội: Sinh viên trường Đại học Sư phạm thể dục thể thao Hà Nội; trình độ văn hoá 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trịnh Xuân N (đã chết) và bà Nguyễn Thị N1; chưa có vợ; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ từ ngày 24/8/2022 chuyển tạm giam ngày 29/8/2022 tại Trại tạm giam Công an tỉnh Ninh Bình cho đến nay (có mặt).

- Người bào chữa cho bị cáo theo chỉ định: Ông Đinh Xuân B1 - Luật sư văn phòng luật sư T thuộc Đoàn luật sư tỉnh Ninh Bình. Địa chỉ: Số nhà … đường Q, tổ 2, phường S, thành phố T, tỉnh Ninh Bình (có mặt).

- Bị hại: Bà Trần Thị Tuyết L1, sinh năm 1969; nơi cư trú: Thôn …, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Bình (có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Lã Đăng S, sinh năm 1969; nơi cư trú: Thôn …, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Bình (có mặt).

- Người làm chứng:

+ Chị Nguyễn Thị N1, ông Trần Trọng H1, chị Lê Thị B2, chị Lã Thị Quỳnh L2 (đều có mặt).

+ Chị Lê Thị Kiên T1 (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trịnh Xuân Q là sinh viên trường Đại học Sư phạm thể dục thể thao Hà Nội có quan hệ hàng xóm với vợ chồng bà Trần Thị Tuyết L1 và ông Lã Đăng S. Khoảng tháng 5/2022, Q nghỉ hè về ở cùng mẹ là bà N1 và anh trai là Trịnh Hoàng H2 tại thôn …., xã P, huyện N, tỉnh Ninh Bình. Trong thời gian ở nhà, Q thường quét dọn vệ sinh đường ngõ, hót lá cây trước cổng nhà đổ lên gốc cây trên thửa đất trống ở bên cạnh của gia đình bà L1, ông S. Nhiều lần bà L1 ra dọn vườn đã nhắc nhở Q và dồn rác thành đống, châm lửa đốt khiến khói, bụi bay vào nhà Q. Xuất phát từ nguyên nhân trên Trịnh Xuân Q bực tức nảy sinh ý định trả thù bà L1.

Khoảng 22 giờ 15 phút ngày 23/8/2022, anh H2 đi vắng không có mặt ở nhà, bà N1 nằm ngủ trong buồng, Trịnh Xuân Q ngồi một mình ở sân nhà, nghĩ lại và cho rằng bà L1 có lời nói không đúng mực với mình nên nảy sinh ý định trả thù. Trịnh Xuân Q sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus đăng nhập tài khoản Facebook “Trịnh Xuân Q” nhắn tin qua ứng dụng Messenger đến tài khoản “Tuyết L1” của bà Trần Thị Tuyết L1 với nội dung hẹn gặp bà L1 trước cổng nhà mình để nói chuyện, bà L1 đồng ý. Sau khi nhắn tin xong, Q xóa hết các đoạn hội thoại trên tin nhắn và đi đến góc sân lấy 01 con dao bầu bằng kim loại màu đen, dài 31 cm, mũi nhọn, một cạnh sắc, cán dao bằng gỗ dài 12 cm, đường kính 2,5 cm, lưỡi dao dài 19 cm, để trong sọt tre trên yên xe mô tô biển kiểm soát 35F6-99.. của mẹ đẻ là bà Nguyễn Thị N1 sử dụng để bán thịt lợn. Khoảng 22 giờ 30 phút, Q cầm dao bầu bằng tay trái, giấu sau lưng, mở cổng đi ra đường bê tông lối đi vào nhà Q. Lúc này bà L1 đi đến đứng đối diện cách khoảng 01 m, Q lấy lý do và hỏi “anh T2 con bác có hay về hay không?”, bà L1 trả lời “có, cũng thi thoảng về”, Q nói “anh ấy không tốt với cháu” và dùng tay trái đang cầm dao bầu đâm mạnh một nhát theo chiều hướng từ dưới lên trên trúng vào vùng cổ trái của bà L1. Bà L1 sợ hãi quay người bỏ chạy ra phía đường, đồng thời hô hoán “anh ơi cứu em với, thằng Q đang đuổi, chém chết em rồi”, Q chuyển dao sang cầm tay phải đuổi theo phía sau dùng dao chém liên tiếp theo chiều hướng từ trên xuống dưới khoảng 08 nhát trúng vào vùng đầu, cổ, lưng, mông, tay làm bà L1 bị thương tích nặng và ngã xuống đường trước cổng. Ông Lã Đăng S đang ở sân nhà, nghe thấy tiếng kêu cứu của bà L1 liền chạy đến can ngăn thì bị Q vung dao chém liên tiếp 02 nhát theo chiều hướng từ trên xuống trong đó 01 nhát trúng vào cẳng tay trái gây thương tích cho ông S. Thấy ông S bị thương, Q dừng lại không tiếp tục chém ông S nữa mà cầm theo dao bầu chạy vào căn nhà cấp 4 đã cũ, không có người ở của gia đình, cách nhà chính mà mẹ con Q đang ở khoảng 60 m, Q cất giấu dao bầu trên tủ gỗ rồi đi về nhà đang ở của gia đình.

Bà Trần Thị Tuyết L1 và ông Lã Đăng S bị thương tích đã được chị Lê Thị B2 ở cùng thôn đưa đến trạm y tế xã P sơ cứu sau đó được chuyển đến Bệnh viện đa khoa tỉnh Ninh Bình để cấp cứu, điều trị. Bà Trần Thị Tuyết L1 được điều trị từ ngày 23/8/2022 đến ngày 05/9/2022 ra viện với 09 vết thương gồm: 02 vết thương vùng cổ KT (8x0,2) cm và (3x0,2) cm, đứt tĩnh mạch nông, đứt một phần cơ cổ bên; 02 vết thương vùng chẩm KT (7x0,2) cm và (4,5x0,2) cm; 01 vết thương vùng lưng - mông phải KT (8x0,2) cm; 01 vết thương liên ngón 1-2 bàn tay phải KT (3x0,2) cm; 01 vết thương 1/3 trên ngoài cẳng tay trái KT (10x0,2) cm; 01 vết thương mu bàn tay trái KT (6x0,2) cm và 01 vết thương mặt sau ngoài cánh tay trái KT (21x0,2) cm, các vết thương đều có bờ mép sắc gọn. Ông Lã Đăng S được điều trị từ ngày 23/8/2022 đến ngày 30/8/2022 ra viện với 01 vết thương 1/3 trên ngoài cẳng tay trái, bờ mép sắc gọn KT (10x0,2) cm.

Sau khi nhận được tin báo Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Ninh Bình đã phối hợp với Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện N, tỉnh Ninh Bình và các đơn vị chức năng tiến hành khám nghiệm hiện trường, thu thập tài liệu chứng cứ và các hoạt động điều tra theo quy định của pháp luật đồng thời triệu tập Trịnh Xuân Q để làm việc.

Tại Cơ quan điều tra Trịnh Xuân Q đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung nêu trên và giao nộp 01 con dao kim loại, loại dao bầu dài 31 cm, trên bề mặt hai bên thân dao có bám dính dị vật màu nâu rải rác, 01 điện thoại di động là vật chứng của vụ án.

Quá trình điều tra Cơ quan điều tra thu giữ mẫu máu của bà Trần Thị Tuyết L1 niêm phong ký hiệu M1 và mẫu máu của ông Lã Đăng S, niêm phong ký hiệu M2. Chị Lã Thị Quỳnh L2 là con gái ông S, bà L1 đã giao nộp 05 tờ giấy A4 in bản ảnh chụp màn hình điện thoại của bà L1 có nội dung tin nhắn, hội thoại giữa Trịnh Xuân Q và bà Trần Thị Tuyết L1 trong ứng dụng Messenger - Facebook của bà L1 và Q trước khi Q gây thương tích cho bà L1 và ông S.

Cơ quan điều tra đã trưng cầu giám định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể, cơ chế hình thành vết thương đối với bà Trần Thị Tuyết L1 và ông Lã Đăng S. Trưng cầu giám định mẫu máu thu giữ tại hiện trường, mẫu dị vật bám dính trên con dao; mẫu máu thu giữ của bà L1, ông S và trưng cầu giám định phục hồi dữ liệu tin nhắn Messenger ngày 23/8/2022 giữa hai tài khoản “Trịnh Xuân Q” và “Tuyết L1” trong điện thoại di động thu giữ của Trịnh Xuân Q.

Kết quả giám định như sau:

- Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 084/2022/ThT-GĐPY ngày 26/8/2022 và Bản kết luận giám định pháp y bổ sung số 101/2022/ThT-GĐPY ngày 06/10/2022 của Trung tâm pháp y tỉnh Ninh Bình kết luận: “Bà Trần Thị Tuyết L1 bị vết thương vùng chẩm phải, vết thương cổ trái, vết thương liên ngón 1-2 tay phải, vết thương trên ngoài cẳng tay trái, vết thương mu bàn tay trái Dấu hiệu giám định ngày 28/9/2022: Sẹo vết thương vùng đỉnh chẩm, sẹo 1/3 trên sau cổ trái, sẹo thắt lưng - mông phải, sẹo mặt sau cánh tay trái. Nối phục hồi gân duỗi ngón IV tay phải, nối phục hồi gân duỗi ngón V tay trái, tổn thương bán phần thần kinh trái. Khâu phục hồi cơ cổ bên trái, khâu tĩnh mạch cổ trái, khâu phục hồi cơ cánh tay quay. Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của bà L1 do thương tích gây nên hiện tại là 37%. Cơ chế hình thành thương tích do vật sắc trực tiếp gây nên”.

- Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 085/2022/ThT-GĐPY ngày 26/8/2022 của Trung tâm pháp y tỉnh Ninh Bình kết luận: “Ông Lã Đăng S bị 01 vết thương vùng cẳng tay trái, Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của ông S do thương tích gây nên hiện tại là 02%. Tổn thương của ông S do vật sắc trực tiếp gây nên”.

- Tại bản kết luận giám định số 650/2022/KLGĐ-PC09-SH ngày 12/9/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình kết luận:“Mẫu ký hiệu A1 thuộc nhóm máu A; Mẫu máu của bà Trần Thị Tuyết L1, ký hiệu M1 thuộc nhóm máu A; Mẫu máu của ông Lã Đăng S, ký hiệu M2 thuộc nhóm máu O. Mẫu ký hiệu A1 gửi giám định là máu người, thuộc nhóm máu A trùng với nhóm máu của bà Trần Thị Tuyết L1, ký hiệu M1. Mẫu ký hiệu A2 gửi giám định là máu người, lượng dấu vết ít, không đủ xác định nhóm máu”.

- Tại bản kết luận giám định số 839/KL-KTHS-KTS&ĐT ngày 30/11/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình kết luận: “Không tìm thấy dữ liệu tin nhắn Messenger giữa hai tài khoản “Trịnh Xuân Q” và tài khoản “Tuyết L1” trên chiếc điện thoại di động gửi giám định trong ngày 23/8/2022”.

Cơ quan điều tra quyết định trưng cầu giám định bổ sung tỷ lệ % tổn thương cơ thể đối với ông Lã Đăng S nhưng ông S có đơn từ chối giám định bổ sung đồng thời nhất trí với kết quả giám định tỷ lệ tổn thương cơ thể được kết luận tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 085/2022/ThT-GĐPY ngày 26/8/2022 của Trung tâm pháp y tỉnh Ninh Bình không có ý kiến gì.

Về trách nhiệm dân sự:

Quá trình điều tra bị can đã tác động gia đình khắc phục hậu quả, bà Nguyễn Thị N1 là mẹ của bị can Q đã bồi thường cho bà Trần Thị Tuyết L1 số tiền 110.000.000 đồng và ông Lã Đăng S số tiền 20.000.000 đồng. Bà L1, ông S đã nhận đủ số tiền trên và không yêu cầu bồi thường gì thêm. Như vậy về trách nhiệm dân sự trong vụ án đã được giải quyết xong.

Tại bản cáo trạng số 01/CT-VKSNB-P2 ngày 26 tháng 12 năm 2022 Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình đã truy tố Trịnh Xuân Q về tội“Giết người” quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo Trịnh Xuân Q thừa nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình đã truy tố.

Tại phiên tòa người bị hại bà Trần Thị Tuyết L1 đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Về phần trách nhiệm dân sự bà đã nhận đủ số tiền 110.000.000 đồng do gia đình bị cáo Q bồi thường và không yêu cầu bị cáo bồi thường.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình sau khi phân tích đánh giá tính chất của vụ án, xem xét do hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đã đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trịnh Xuân Q phạm tội “Giết người” (Chưa đạt).

Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 15; khoản 1 Điều 54; khoản 1 và khoản 3 Điều 57 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trịnh Xuân Q từ 10 đến 11 năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ 24/8/2022.

Về xử lý vật chứng:

- Tịch thu tiêu hủy: 01 dao bầu kim loại được niêm phong trong một túi niêm phong bên ngoài có ghi chữ “Giết người ngày 23/8/2022 tại P, huyện N; 01 dao bầu”; 01 phong bì niêm phong bên trong có mẫu tóc thu giữ tại hiện trường trên phong bì có ghi “mẫu tóc thu tại hiện trường” do vật chứng trên không có giá trị và không sử dụng được.

- Trả lại cho bị cáo Trịnh Xuân Q: 01 điện thoại di động có nhãn hiệu Iphone 8 Plus có lắp sim điện thoại được niêm phong trong 01 phong bì bên ngoài có ghi chữ “01 ĐTDĐ màu trắng, nhãn hiệu Iphone, tên kiểu máy Iphone 8 Plus” nhưng tiếp tục quản lý để đảm bảo thi hành án.

Bị cáo Trịnh Xuân Q phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Luật sư bào chữa cho bị cáo có quan điểm: Hành vi phạm tội của bị cáo Trịnh Xuân Q bị Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình truy tố về tội “Giết người” theo quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Luật sư đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo là: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã tác động gia đình bồi thường xong toàn bộ thiệt hại cho bà Trần Thị Tuyết L1 với số tiền là 110.000.000 đồng; bà L1 có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; bị cáo có nhân thân tốt, trong quá trình học tập tại Trường Đại học Sư phạm thể dục thể thao Hà Nội đã được Ban chấp hành Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh tặng “Giấy khen” năm 2020 và năm 2021, là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 15; Điều 57 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo mức án dưới mức thấp nhất của khung hình phạt để bị cáo yên tâm cải tạo sớm trở về với gia đình và xã hội.

Lời nói sau cùng bị cáo: Đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo yên tâm cải tạo sớm trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Tại phiên tòa bị cáo Trịnh Xuân Q thừa nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình đã truy tố. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng; Biên bản khám nghiệm hiện trường; Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 084/2022/ThT-GĐPY ngày 26/8/2022 và Bản kết luận giám định pháp y bổ sung số 101/2022/ThT-GĐPY ngày 06/10/2022 của Trung tâm pháp y tỉnh Ninh Bình và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ đã có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 22 giờ 15 phút ngày 23/8/2022, tại đường ngõ vào cổng nhà Trịnh Xuân Q ở thôn …, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Bình, xuất phát từ mâu thuẫn nhỏ trong cuộc sống hàng ngày, Trịnh Xuân Q đã sử dụng 01 con dao bầu dài 31 cm là hung khí nguy hiểm đâm 01 nhát vào cổ bà L1. Sau khi bị đâm bà L1 bỏ chạy, Q đuổi theo từ phía sau chém liên tiếp nhiều nhát gây ra vết thương vào đầu, vào cổ, vào lưng - mông và vào tay trái, tay phải của bà L1 đều là các vùng trọng yếu trên cơ thể của bà Lan cho đến khi có ông S ngăn cản thì Q mới dừng lại. Hậu quả bà L1 không chết nhưng bị tổn thương cơ thể, suy giảm 37% sức khỏe là nằm ngoài ý thức chủ quan của Trịnh Xuân Q. Hành vi của Trịnh Xuân Q đã phạm tội “Giết người”, thuộc trường hợp“có tính chất côn đồ” được quy định được quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 của Bộ luật Hình sự.

Điều 123. Tội giết người.

1. Người nào giết người thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình:

a)……………….

n) Có tính chất côn đồ;

………

Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình đã truy tố đối với bị cáo Trịnh Xuân Q với tội danh và điều luật đã viện dẫn như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sống là một trong những quyền cơ bản nhất của con người được pháp luật bảo vệ. Hành vi phạm tội của bị cáo xảy ra vào buổi đêm ngay khu dân cư nơi bị cáo và bị hại đang sinh sống đã gây tác động xấu đến trật tự trị an, an toàn xã hội tại địa phương và gây tâm lý hoang mang trong quần chúng nhân dân. Căn cứ vào tính chất, hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra và yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm xét thấy cần phải xử phạt bị cáo nghiêm minh trước pháp luật, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian tương xứng với tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo đủ điều kiện để cải tạo, giáo dục bị cáo, răn đe và phòng ngừa chung cho xã hội.

Tuy nhiên khi lượng hình cần xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là: Quá trình điều tra, tại phiên tòa bị cáo Trịnh Xuân Q thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã tác động gia đình bồi thường toàn bộ thiệt hại cho bà Trần Thị Tuyết L1 số tiền 110.000.000 đồng; quá trình điều tra và tại phiên tòa bị hại bà L1 đều xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; bị cáo có nhân thân tốt, trong quá trình học tập tại Trường Đại học Sư phạm thể dục thể thao Hà Nội đã được Ban chấp hành Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh tặng “Giấy khen” hai năm liền (năm 2020 và năm 2021). Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự được áp dụng để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do bị cáo có 02 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, nên được áp dụng quy định tại khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội đối với bà Trần Thị Tuyết L1 nhưng bà L1 chưa chết mà chỉ bị tổn thương cơ thể 37% sức khỏe là nằm ngoài ý thức chủ quan của bị cáo nên áp dụng Điều 15, Điều 57 của Bộ luật Hình sự quy định về phạm tội chưa đạt khi lượng hình.

Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra bị cáo đã tác động đến gia đình bồi thường số tiền 110.000.000 đồng cho bà Trần Thị Tuyết L1. Bà L1 đã nhận đủ số tiền trên và không có yêu cầu gì thêm về phần dân sự do vậy trách nhiệm dân sự không đặt ra xem xét giải quyết.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Đối với: 01 dao bầu kim loại được niêm phong trong một túi niêm phong bên ngoài có ghi chữ “Giết người ngày 23/8/2022 tại xã P, huyện N; 01 dao bầu”; 01 phong bì niêm phong bên trong có mẫu tóc thu giữ tại hiện trường trên phong bì có ghi “mẫu tóc thu tại hiện trường” là vật chứng bị cáo thực hiện hành vi phạm tội không có giá trị và không sử dụng được nên cần tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 01 điện thoại di động có nhãn hiệu Iphone 8 Plus có lắp sim điện thoại được niêm phong trong 01 phong bì bên ngoài có ghi chữ “01 ĐTDĐ màu trắng, nhãn hiệu Iphone, tên kiểu máy Iphone 8 Plus” đã thu giữ của bị cáo Q. Bị cáo sử dụng để nhắn tin hẹn bà L1 nhưng tại bản kết luận giám định số 839/KL-KTHS-KTS&ĐT ngày 30/11/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình kết luận: “Không tìm thấy dữ liệu tin nhắn Messenger giữa hai tài khoản “Trịnh Xuân Q” và tài khoản “Tuyết L1” trên chiếc điện thoại di động gửi giám định trong ngày 23/8/2022” do vậy cần trả lại chiếc điện thoại trên cho bị cáo nhưng tiếp tục quản lý để đảm bảo thi hành án.

Trong vụ án này bị cáo Trịnh Xuân Q có hành vi dùng dao chém vào tay trái ông Lã Đăng S khi ông S can ngăn Q không tiếp tục thực hiện hành vi chém bà L1 nữa làm cho ông S bị suy giảm 02% sức khỏe. Quá trình điều tra bị cáo không có ý thức tước đoạt tính mạng của ông S. Khi bị cáo thấy ông S bị thương đã chủ động không tiếp tục chém ông S nữa. Vì vậy hành vi của Q không đủ yếu tố cấu thành tội “Giết người” nhưng có dấu hiệu của tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên ông S đã có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự, không yêu cầu khởi tố đối với Quốc. Ngày 18/11/2022 Công an tỉnh Ninh Bình đã căn cứ điểm a khoản 5 Điều 7 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội phạt tiền, số tiền 5.000.000 đồng đối với Trịnh Xuân Q về hành vi “Cố ý gây thương tích”. Trịnh Xuân Q đã nhờ mẹ đẻ là bà Nguyễn Thị N1 nộp phạt xong ngày 21/11/2022.

Về quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa người bào chữa cho bị cáo, bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi của người tiến hành tố tụng và Quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng, Cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Về án phí: Bị cáo Trịnh Xuân Q bị tuyên là có tội nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm n khoản 1 Điều 123; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 15; khoản 1 và khoản 3 Điều 57; Điều 47 của Bộ luật Hình sự;

Căn cứ vào Điều 106; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

1. Tuyên bố: bị cáo Trịnh Xuân Q phạm tội “Giết người” (chưa đạt).

Xử phạt bị cáo Trịnh Xuân Q 10 (mười) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ 24/8/2022.

2. Về xử lý vật chứng:

- Tịch thu tiêu hủy: 01 dao bầu kim loại được niêm phong trong một túi niêm phong bên ngoài có ghi chữ “Giết người ngày 23/8/2022 tại xã P, huyện N; 01 dao bầu”; 01 phong bì niêm phong bên trong có mẫu tóc thu giữ tại hiện trường trên phong bì có ghi “mẫu tóc thu tại hiện trường”.

- Trả lại cho bị cáo Trịnh Xuân Q: 01 điện thoại di động có nhãn hiệu Iphone 8 Plus có lắp sim điện thoại được niêm phong trong 01 phong bì bên ngoài có ghi chữ “01 ĐTDĐ màu trắng, nhãn hiệu Iphone, tên kiểu máy Iphone 8 Plus” nhưng tiếp tục quản lý để đảm bảo thi hành án.

(Chi tiết vật chứng như biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 03/01/2023 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Ninh Bình và Cục thi hành án dân sự tỉnh Ninh Bình).

3. ¸n phÝ: Bị cáo Trịnh Xuân Q phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử sơ thẩm công khai, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ