vanban.org

Bản án 09/2023/HS-ST — Hình sự

TAND tỉnh Hậu Giang Tuyên án 15/02/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Long Đ phạm tội Giết người.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Long Đ 05 (năm) năm tù. Thời hạn tính từ ngày 29/7/2022. Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 (bốn mươi lăm) ngày để đảm bảo thi hành án. Thời hạn tạm giam tính từ ngày tuyên án ngày 15/02/2023. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự. Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Long Đỉnh - phạm tội giết người (điều 123 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Long Đ phạm tội Giết người.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 123 Bộ luật Hình sự; Điều 54 Bộ luật Hình sự xử dưới mức thấp nhất
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH HẬU GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 09/2023/HS-ST
Ngày 15 - 02 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Thái Sơn.

Thẩm phán: Ông Hồ Hữu Thắng.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Xuân Tý; Bà Đặng Hồng Luyến; Bà Lê Kim Thủy.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Thịnh – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hậu Giang tham gia phiên tòa: Bà Lê Ngọc Minh - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 53/2022/TLST-HS ngày 18 tháng 11 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2023/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 01 năm 2023, đối với bị cáo:

Nguyễn Long Đ, sinh năm 1993, tại huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang; nơi cư trú: ấp A, xã P, huyện C, tỉnh Hậu Giang; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ học vấn: không biết chữ; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn M và bà Thạch Quành N; bị cáo chưa có vợ, con; tiền sự: không; tiền án: không; nhân thân: chưa vi phạm pháp luật; bị bắt tạm giam từ ngày 29/7/2022 đến nay; hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hậu Giang; có mặt.

- Người đại diện hợp pháp của bị cáo: Bà Thạch Quành N, sinh năm 1973.

Nơi cư trú: ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Hậu Giang; có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Nguyễn Thị Minh Kha. Là Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Hậu Giang; có mặt.

- Bị hại: Nguyễn Văn M, sinh năm 1963.

Nơi cư trú: ấp A, xã P, huyện C, tỉnh Hậu Giang; có mặt.

- Người làm chứng:

1. Nguyễn Quốc N, sinh năm 1981; vắng mặt.

2. Đặng Văn M, sinh năm 1973; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13 giờ ngày 16/6/2022, bị cáo Nguyễn Long Đ nhậu cùng với Đặng Văn M, Danh Th và Võ Hoàng Kh tại nhà của Kh thuộc ấp Phú Trí A, xã Phú Tân, huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang. Đến khoảng 18 giờ cùng ngày Đ nghỉ nhậu và đi bộ trở về nhà tại ấp Phú Trí A, xã Phú Tân, huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang. Khi về đến nhà, Đỉnh thấy ông Nguyễn Văn M là cha ruột của Đ đang nằm trên giường ở nhà trước, đầu hướng vào trong buồng, chân hướng ra ngoài lộ. Lúc này, Đ kêu ông Nguyễn Văn M nấu cơm cho Đ ăn, nhưng ông M trả lời là không nấu. Nghe vậy, Đ thấy bực tức trong người nên đi ra khu vực nhà sau đến chỗ bếp nấu ăn lấy một con dao (loại dao yếm), cán bằng gỗ, lưỡi dao bằng kim loại, chiều dài 44cm cầm trên tay phải đi ra phía trước nhà đến bên cạnh giường chỗ ông M đang nằm. Lúc này, ông M đang nằm ngửa trên giường, đầu nằm trên gối nhưng ở ngoài mùng chỉ có thân mình và chân ở trong mùng. Đ dùng tay phải cầm dao đưa vào phía bên trái cổ của ông M rồi kéo ngang một cái làm có ông M bị đứt và chảy máu nên ông M vùng dậy chạy ra lộ nông thôn thì gặp ông Nguyễn Quốc N (là Trưởng ấp Phú Trí A). Còn Đ đi theo sau ông M, cây dao thì Đ để trên bàn. Sau đó, ông N đã gọi cho Công an xã Phú Tân, huyện Châu Thành để trình báo vụ việc. Ông M được người dân đưa đến Trung tâm y tế huyện Châu Thành để điều trị vết thương.

Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 159/TgT ngày 29/6/2022 của Trung tâm pháp y - Sở Y tế thành phố Cần Thơ kết luận:

1. Dấu hiệu chính qua giám định:

- Vết thương vùng giữa cổ lệch trái đã được điều trị. Hiện tại vết thương chưa lành, còn rỉ dịch, không ảnh hưởng chức năng.

- Vết thương vùng cổ trái đã được điều trị. Hiện tại vết thương đang lành, còn đóng mài, không ảnh hưởng chức năng.

2. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại đối với ông Nguyễn Văn M là 06 % (sáu phần trăm).

2. Cơ chế hình thành vết thương.

Các vết thương trên cơ thể của ông Nguyễn Văn M phù hợp với cơ chế do vật sắc gây ra.

Tại Kết luận giám định pháp y tâm thần số 584/KL-VPYTW ngày 16/9/2022 của Viện pháp y tâm thần trung ương Biên Hòa kết luận:

- Về y học:

+ Trước, trong, sau khi gây án và hiện nay: Đương sự Nguyễn Long Đ bị bệnh rối loạn nhân cách và hành vi thực tổn/động kinh (FO7.8/G40 – ICD.10).

- Về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.

+ Tại thời điểm gây án: Đương sự bị hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.

+ Hiện tại: Đương sự đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.

* Vật chứng của vụ án:

- 01 (một) cây dao yếm cán cây dài 44cm, lưỡi dao dài 30 cm, đã qua sử dụng.

Quá trình điều tra, Nguyễn Long Đ đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân.

Về trách nhiệm dân sự: Ông Nguyễn Văn M không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại.

Tại Cáo trạng số 44/CT-VKSHG-P1 ngày 16 tháng 11 năm 2022 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hậu Giang truy tố bị cáo Nguyễn Long Đ về tội Giết người theo quy định tại điểm đ, n khoản 1 Điều 123 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội giữ nguyên Cáo trạng truy tố, đề nghị:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Long Đ phạm tội Giết người.

Căn cứ điểm đ, n khoản 1 Điều 123; điểm p, q, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 54; Điều 57 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Long Đ từ 05 (năm) năm đến 06 (sáu) năm tù.

Vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 (một) cây dao yếm cán cây dài 44cm, lưỡi dao dài 30 cm, đã qua sử dụng.

Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị không xem xét, do bị hại không yêu cầu.

Phát biểu tự bào chữa bị cáo thừa nhận hành vi của mình là phạm tội, xin tòa xem xét giảm nhẹ hình phạt từ 02 đến 03 năm tù.

Phát biểu bào chữa cho bị cáo: Người bào chữa thống nhất hành vi của bị cáo phạm tội Giết người như cáo trạng truy tố; thống nhất điều luật Kiểm sát viên đề nghị áp dụng cho bị cáo tại phiên tòa. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét đến điều kiện hoàn cảnh của bị cáo đang bị bệnh động kinh nên hạn chế nhận thức hành vi; sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị hại có yêu cầu giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo theo quy định tại điểm p, q, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 54; 57 Bộ luật Hình sự. Về mức hình phạt, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng cho bị cáo mức hình phạt thấp nhất theo đề nghị của Kiểm sát viên là 05 năm tù.

Đại diện bị cáo: Yêu cầu xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Bị hại: Yêu cầu xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Phát biểu đối đáp: Không ai phát biểu đối đáp.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Xét hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên của Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về xét xử vắng mặt: 02 người làm chứng tại phiên toà vắng mặt không lý do. Xét việc vắng mặt của những người này không ảnh hưởng đến việc xét xử. Căn cứ Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử.

. Về tội danh: Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Long Đ thừa nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng Viện kiểm sát truy tố. Đối chiếu lời khai của bị cáo là phù hợp với lời khai của bị hại và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định: ngày 16/6/2022, bị cáo Nguyễn Long Đ sau khi nhậu tại ông Võ Hoàng Kh. Khi về đến nhà, Đỉnh thấy ông Nguyễn Văn M là cha ruột của Đ đang nằm ngủ trên giường, Đ kêu ông M thức dậy nấu cơm cho Đ ăn, ông M trả lời là không nấu. Đ bực tức đi ra khu vực nhà bếp lấy cây dao yếm dùng tay cắt vào cổ ông M. Ông M phát hiện vùng vẫy bỏ chạy ra ngoài. Theo kết luận giám định pháp y về thương tích số 159/TgT ngày 29/6/2022 của Trung tâm pháp y - Sở Y tế thành phố Cần Thơ kết luận ông Nguyễn Văn M bị tổn thương cơ thể do thương tích gây ra là 06% (sáu phần trăm). Xét giữa bị cáo Đ và ông M không có mâu thuẫn gì trước, nhưng khi Đ kêu ông M thức dậy nấu cơm cho Đ ăn, ông M không đồng ý, Đ đã dùng cây dao (loại dao yếm cán bằng gỗ, tổng chiều dài 44cm, trong đó lưỡi dao bằng kim loại, dài 30cm) cắt vào vùng cổ ông M. Như vậy, chỉ vì lời từ chối thực hiện yêu cầu nấu cơm cho Đ ăn của ông M mà Đ đã dùng dao yếm là hung khí nguy hiểm cắt vào cổ ông M là vùng trọng yếu trên cơ thể con người. Việc ông M không chết là ngoài ý muốn chủ quan của bị cáo Đ. Với hành vi như đã nêu trên, đối chiếu với quy định tại Điều 123 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bỏ sung năm 2017 (về sau gọi là Bộ luật Hình sự), Hội đồng xét xử xác định hành vi của bị cáo Nguyễn Long Đ đủ yếu tố cấu thành tội “Giết người”, thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt như cáo trạng Viện kiểm sát truy tố.

. Về khung hình phạt: Bị cáo Nguyễn Long Đ thực hiện hành vi phạm tội Giết người là “Cha ruột của mình” và “Có tính chất côn đồ”, nên bị cáo phải các chịu tình tiết định khung hình phạt theo quy định tại điểm đ, n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự.

. Xét tính nguy hiểm của hành vi phạm tội và hậu quả gây ra:

Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe, tính mạng của bị hại được pháp luật bảo vệ, làm mất an ninh trật tự, gây hoang mang cho người dân tại địa phương. Chỉ vì mâu thuẫn nhỏ trong cuộc sống, bị cáo yêu cầu bị hại nấu cơm cho bị cáo ăn, bị hại trả lời không nấu, bị cáo đã nhanh chóng đi tìm dao yếm và lạnh lùng cắt cổ định tước đoạt tính mạng người tạo ra và nuôi dưỡng bị cáo từ nhỏ.

Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, nên nhận thức được hành vi dùng dao yếm (loại dao thường sử dụng sinh hoạt trong gia đình) cắt vào cổ người khác là có thể tước đoạt quyền được sống. Nhưng để thỏa mãn sự bực tức của mình bị cáo vẫn thực hiện, hành vi thể hiện tính cố ý, phạm tội đặc biệt nghiêm trọng nên cần xử lý bằng hình phạt nghiêm khắc, đủ để răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa loại tội phạm này tại địa phương.

. Nhân thân: Bị cáo mới phạm tội lần đầu, chưa có tiền án, tiền sự, trước lần phạm tội này chưa vi phạm pháp luật; không nghề nghiệp ổn định được hưởng trợ cấp hàng tháng của Nhà nước; trước khi phạm tội sống chung với ông M; hoàn cảnh kinh tế gia đình hiện tại thuộc diện khó khăn ở địa phương.

. Tình tiết tăng nặng: Bị cáo phạm tội trong trường hợp không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.

. Tình tiết giảm nhẹ: Sau khi phạm tội, quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, thể hiện thái độ ăn năn, hối cải; là người khuyết tật nặng; người có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình; bị hại có yêu cầu xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên được xem xét giảm nhẹ theo quy định tại điểm p, q, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

. Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội; nhân thân bị cáo; tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ; hậu quả thiệt hại gây ra, Hội đồng xét xử chiếu cố áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự xử dưới mức thấp nhất của khung hình phạt và Điều 57 xử không quá ba phần tư cho bị cáo.

. Với những nhận định như nêu trên, Hội đồng xét xử thống nhất với đề nghị của đại diện Việm kiểm sát; thống nhất với yêu cầu bào chữa của người bào chữa cho bị cáo.

. Về tang vật chứng: 01 (một) cây dao yếm cán gỗ, tổng chiều dài 44cm, trong đó lưỡi dao dài 30 cm, đã qua sử dụng. Là tài sản của ông Nguyễn Văn M, bị cáo dùng vào việc phạm tội, hiện không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại ông Nguyễn Văn M không yêu cầu buộc bị cáo bồi thường, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

. Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo được miễn theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các điều 268, 269, 293, 329 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Căn cứ điểm đ, n khoản 1 Điều 123; điểm p, q, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; các điều 38; 54; 57 Bộ luật Hình sự.

1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Long Đ phạm tội Giết người.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Long Đ 05 (năm) năm tù. Thời hạn tính từ ngày 29/7/2022. Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 (bốn mươi lăm) ngày để đảm bảo thi hành án. Thời hạn tạm giam tính từ ngày tuyên án ngày 15/02/2023.

2. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự. Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) cây dao yếm cán bằng gỗ, tổng chiều dài 44cm, trong đó lưỡi dao dài 30 cm, đã qua sử dụng.

Vật chứng được xác định theo Quyết định chuyển vật chứng số 34/QĐ-VKSHG-P1 ngày 16/11/2022 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hậu Giang. (Kèm theo Biên bản giao nhận ngày 17/11/2022 từ Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Hậu Giang cho Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hậu Giang.)

3. Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét giải quyết, do bị hại không yêu cầu.

4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức án phí, lệ phí Toà án.

Bị cáo Nguyễn Long Đ không phải chịu.

5. Quyền kháng cáo: Bị cáo (đại diện bị cáo, người bào chữa), bị hại được quyền làm đơn kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ