- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Mai Nhật L phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN T THÀNH PHỐ H | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 09/2023/HS-ST Ngày 15/02/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN T, THÀNH PHỐ H
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đào Đức Cần Các Hội thẩm nhân dân: Ông Tạ Ngọc Cư
Bà Phạm Thị Hiền
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Ngọc Châu là thư ký Tòa án nhân dân quận Tây Hồ -Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận T, thành phốH tham gia phiên toà: Ông Lê Huy - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận T, thành phố H, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 235/2022/TLST - HS ngày 07 tháng 12 năm 2022 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 05/2023/QĐ- ST ngày 01 tháng 02 năm 2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Mai Nhật L, Giới tính: Nữ, sinh năm 1991.HKTT: P105F5 ngõ 190 phố L, phường Đ, quận H, thành phố H. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 12/12. Nghề nghiệp: Kinh doanh tự do. Bố: M C, sinh năm 1963. Mẹ: Bùi Thị Kim L, sinh năm 1962. Danh bản chỉ bản số 163 lập ngày 27/4/2022 tại công an quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội
Tiền án, tiền sự: Chưa có.
Bị tạm giữ ngày 19/4/2022.
Có mặt tại phiên tòa
* Người bị hại: Chị Lê Thị Phương M, sinh năm 1992; HKTT : Tổ 11 phường Nghĩa Tân, quận Cầu Giấy, thành phốH ( Có đơn xin xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng đầu tháng 12/2021 thông qua mạng xã hội Facebook, Mai Nhật L sử dụng tài khoản tên “ Mai Nhật L” liên hệ với tài khoản tên “Lê Phương Mai” của chị Lê Thị Phương M (Sinh năm:1992 - HKTT: Tổ 11, Nghĩa Tân, Cầu Giấy,H - Chỗ ở: Số 6 ngách 58/12/37 Nguyễn Khánh Toàn, Quan Hoa, Cầu Giấy,H
- Nghề nghiệp: kinh doanh bán hàng online) xin làm cộng tác viên bán hàng thực phẩm đồ ăn nhanh, thực phẩm chức năng, mỹ phẩm, thuốc ức chế virus…., chị M đồng ý.L và chị M thoả thuận khi L liên hệ lấy loại mặt hàng, số lượng xong chị M sẽ lên đơn hàng qua ứng dụng trên điện thoại và báo lại choL đến nhà chị M tại số 6 ngách 58/12/37 Nguyễn Khánh Toàn, Quan Hoa, Cầu Giấy,H lấy hàng. Đến cuối ngày,L và chị M chốt tiền hàng với nhau, L sẽ thanh toán bằng hình thức chuyển tiền vào tài khoản ngân hàng cho chị M.
Từ ngày 26/12/2021 đến ngày 28/12/2021,L đến nhà chị M lấy hàng và chốt đơn hàng trị giá 480.000đồng, L đã thanh toán chuyển khoản đầy đủ cho chị Mai. Quá trình chuyển khoản tiền,L thấy chị M thường không để ý về biến động số dư trong tài khoản nênL đã nảy sinh ý định chiếm đoạt hàng hoá của chị M bằng cách sẽ làm giả các bản ảnh chuyển tiền “Giao dịch thành công” của Ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) đến số tài khoản 19032618359018 của chị Lê Thị Phương M tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Kỹ thương Việt Nam (TechcomBank), sau đóL đến nhà chị M nhận hàng và đem bán cho khách lấy tiền chi tiêu. KhiL ở nhà tại số 31D ngách 264/15 Âu Cơ, phường Nhật Tân, quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội,L vào máy tính xách tay rồi lên mạng Internet tải phần mềm chỉnh sửa hình ảnh Adobe Photoshop để tạo các bản ảnh chuyển tiền giả về các nội dung số tiền, ngày tháng năm, số tham chiếu đến tài khoản của chị M và lưu sẵn trong máy tính.
Từ ngày 29/12/2021 đến ngày 17/4/2022,L đã liên tiếp thực hiện chỉnh sửa giả mạo 68 (sáu mươi tám) bản ảnh chuyển khoản tiền đến số tài khoản 19032618359018 của chị Lê Thị Phương M tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Kỹ thương Việt Nam và gửi, báo cho chị M làL đã chuyển số tiền 453.022.000đ (bốn trăm năm mươi ba triệu không trăm hai mươi hai nghìn đồng), tương ứng cho các đơn hàng thanh toán là 453.753.000đ (bốn trăm năm mươi ba triệu bảy trăm năm mươi ba nghìn đồng) (số tiền chênh lệch với giá hàng hoá là 731.000 đồng được chị M chiết khấu, giảm giá cho Linh). Sau mỗi lần gửi bản ảnh chuyển khoản tiền giả cho chị M qua ứng dụng tin nhắn Facebook, Zalo xong,L và chị M vẫn trao đổi thoả thuận đểL đến lấy hàng, thanh toán tiếp nên chị M không nghi ngờ và kiểm tra tài khoản của mình đã nhận được tiền chưa. Quá trình lấy hàng hoá,L là người trực tiếp đi lấy và một số lầnL nhờ ông M Cương (Sinh năm 1963 – là bố đẻ của Linh) và chị Trần Thị Phương (Sinh năm 1986 – Trú tại Số 1 ngõ 1/6 Đội Cấn, Ba Đình,H – là chị dâu của Linh) đi lấy hộ. Sau khi nhận được hàng từ chị M hoặc chị Hoàng Hồng Loan (Sinh năm 1990 – Trú tại Số 8 ngách 49 Lương Sử A, Văn Chương, Đống Đa,H – là nhân viên chị M thuê làm kế toán, quản lý) xong thìL mang số hàng hoá về nhà bán. Tổng số 68 (sáu mươi tám) lần giả mạo bản ảnh chuyển khoản tiền, số tài sảnL chiếm đoạt được của chị M là hơn 112 đơn hàng (một số lần lấy hàngL đến nhận trực tiếp nên không lên đơn) gồm 142 loại mặt hàng các số lượng khác nhau (Danh sách cụ thể kèm theo cáo trạng). Trong đó, chị M ba lần kiểm tra tài khoản nhưng không thấy biến động số dư nên chị M đã hỏi Linh.L sợ chị M phát hiện nên đã dùng tài khoản Ngân hàng Thương mại cổ phần Tiền Phong (TPBank) số tài khoản: 03564080501 củaL để chuyển khoản tiền thành công cho M với số tiền 23.849.000đ (Hai mươi ba triệu tám trăm bốn mươi chín nghìn đồng) nhằm tạo lòng tin để tiếp tục lừa chị Mai. Đối với số tiền bán hàng màL chiếm đoạt được,L đã bán cho nhiều người không quen biết và lấy tiền sử dụng chỉ tiêu cá nhân hết.
Ngày 19/4/2022, chị Lê Thị Phương M kiểm tra tài khoản thấy thiếu hụt nhiều tiền nên hỏi lạiL thì đượcL thừa nhận đã lừa đảo chiếm đoạt tài sản của chị M nên chị M có đơn trình báo gửi đến Cơ quan Công an.
Cùng ngày 19/4/2022, M NhậtL đến cơ quan công an đầu thú,L khai nhận hành vi phạm tội của bản thân như nội dung trên, lời khai của bị can phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng, vật chứng thu giữ và các tài liệu trong hồ sơ vụ án. Tại cơ quan điều tra,L đã tự nguyện giao nộp một số hàng màL đã chiếm đoạt của chị M nhưng chưa bán hết gồm:
- 20 (hai mươi) hộp giấy tên nước ngoài màu xanh bên trong chưa 10 viên nén chưa qua sử dụng.
- 02 (hai) hộp giấy tên nước ngoài màu hồng bên trong chứa 30 gói dạng bột chưa qua sử dụng.
- 02 (hai) hộp màu trắng hồng bên trong chưa 10 ống dạng nước chưa qua sử dụng.
- 01 (một) hộp màu vàng xanh có tên SUPERLECITHIN màu vàng xanh bên trong chứa 100 viên nén chưa qua sử dụng.
- 01 (một) hộp màu trắng có chữ LANEIGE bên trong chứa 03 hộp nhỏ chưa qua sử dụng.
- 01 (một) hộp có tên RETINOL bên trong chưa các viên nén chưa qua sử dụng.
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi màu xanh không kiểm tra chất lượng bên trong;
- 01 (một) máy tính nhãn hiệu DELL (Linh sử dụng để chỉnh sửa ảnh giao dịch tiền cho chị Mai)
Cơ quan điều tra tiến hành khám xét nơi ở của M NhậtL tại P105F5 ngõ 190 Lò Đúc, phường Đống Mác, quận Hai Bà Trưng, thành phốH phát hiện thu giữ số tài sản màL đã chiếm đoạt được của chị Mai:
- 22 gói đậu hũ, cá phô M nhãn hiệu EB FROZEN FOOD;
- 03 gói sủi cảo nhân thịt nhãn hiệu Hacao;
- 02 gói sủi cảo nhân tôm, nhãn hiệu Hacao;
- 02 gói cá viên vị tôm hùm nhãn hiệu EB FROZEN FOOD;
- 03 gói nem lụi; (không nhãn mác)
- 02 gói viên thả lẩu; (không nhãn mác)
- 02 hộp nước cốt lẩu; (không nhãn mác)
Tại Kết luận định giá số 104/KL-HĐĐG ngày 19/05/2022 của Hội đồng định giá tài sản tố tụng hình sự - UBND quậnT kết luận:
- Giá một số sản phẩm được phân loại là thực phẩm có trị giá là 111.969.000đ (một trăm mười một triệu chín trăm sáu mươi chín nghìn đồng)
- Giá một số sản phẩm được phân loại là vật tư y tế có trị giá là 133.439.000đ (một trăm ba mươi ba triệu bốn trăm ba mươi chín nghìn đồng)
- Giá một số sản phẩm được phân loại là sản phẩm chức năng có trị giá là 73.005.000đ (bảy mươi ba triệu không trămL năm nghìn đồng)
- Giá một số sản phẩm được phân loại là mỹ phẩm có trị giá là 15.180.000đ (mười lăm triệu một trăm tám mươi nghìn đồng)
- Giá một số sản phẩm được phân loại là dược phẩm có trị giá là 120.160.000đ (một trăm hai mươi triệu một trăm sáu mươi nghìn đồng)
Tổng cộng: 453.753.000đ (bốn trăm năm mươi ba triệu bảy trăm năm mươi ba nghìn đồng).
Đối với các sản phẩm 20 (hai mươi) hộp giấy tên nước ngoài chưa qua sử dụng; 02 (hai) hộp giấy tên nước ngoài màu hồng bên trong chứa 30 gói dạng bột chưa qua sử dụng; 02 (hai) hộp màu trắng hồng bên trong chưa 10 ống dạng nước chưa qua sử dụng; 01 (một) hộp màu vàng xanh có tên “Superlecithin” màu vàng xanh bên trong chứa 100 viên nén chưa qua sử dụng; 01 (một) hộp màu trắng có chữ “Laneige” bên trong chứa 03 hộp nhỏ chưa qua sử dụng; 01 (một) hộp có tên “Retinol” bên trong chưa các viên nén chưa qua sử dụng, Cục quản lý dược – Bộ y tế có công văn số 5167 ngày 15/06/2022 và công văn số 5289 ngày 20/06/2022 xác định: Căn cứ dữ liệu cấp giấy đăng ký lưu hành thuốc, dữ liệu cấp giấy phép nhập khẩu, hiện không có sản phẩm nào có tên “Superlecithin”, “Laneige”, “Retinol” được Cục Quản lý Dược cấp giấy đăng ký lưu hành hoặc giấy phép nhập khẩu. Chị M khai: các thực phẩm đồ ăn nhanh, thực phẩm chức năng, mỹ phẩm, thuốc ức chế virus…., là của chị Mai. Do chị M kinh doanh online trên nhiều trang mạng xã hội, mua từ nhiều người khác nhau nên chị M chưa tìm kiếm lại để cung cấp được hoá đơn, chứng từ liên quan đến nguồn gốc, xuất xứ số hàng hoá này. Ngày 11/11/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an quậnT đã ra Quyết định tách hành vi và tài liệu liên quan để làm rõ nguồn gốc, xuất xứ số sản phẩm thu giữ của M NhậtL để điều tra làm rõ sau.
Đối với ông M Cương, chị Trần M Phương đến nhà chị M lấy hàng giúp M Nhật Linh, quá trình điều tra xác định ông Cương, chị Phương không liên quan đến hành vi phạm tội của Linh, ông Cương và chị Phương không được hưởng lợi gì từ việc lấy hàng giúpL nên Cơ quan điều tra không xem xét xử lý.
Đối với toàn bộ số tài sản M NhậtL chiếm đoạt của chị Mai, gia đình M NhậtL đã thoả thuận xin bồi thường dần số tiền 453.753.000đồng (bốn trăm năm mươi ba triệu bảy trăm năm mươi ba nghìn đồng) cho chị Mai, chị M đồng ý và không yêu cầu giải quyết trong vụ án này, đồng thời có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho M Nhật Linh.
Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Bản cáo trạng số 216/CT - VKS ngày 30/11/2022 của Viện kiểm sát nhân dân quậnT quyết định truy tố bị cáo M NhậtL về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 3 điều 174 Bộ luật hình sự.
Viện kiểm sát nhân dân quậnT vẫn giữ nguyên quyết định truy tố, sau khi đánh giá các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ của bị cáo, xem xét về nhân thân: Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 174 Bộ luật hình sự; Điều 38; điểm b, s khoản 1, 2 điều 51; Điểm g khoản 1 điều 52 Bộ luật hình sự.
- Xử phạt L từ 09 năm đến 10 năm tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo vì bị cáokhông có nghề nghiệp ổn định.
Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại không yêu cầu giải quyết.
Về án phí: Áp dụng Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí, Lệ phí của Tòa án:
Vật chứng vụ án: Áp dụng điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu sung công 01 điện thoại di động; 01 máy tính xách tay nhãn hiệu DELL.
- Bị cáo chịu án phí hình sự, án phí dân sự theo quy định pháp luật.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo nhận thấy hành vi của mình là sai trái, vi phạm pháp luật, rất hối lỗi và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
1. Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra – Công an quận Tây Hồ; Điều tra viên,Viện kiểm sát nhân dân quận Tây Hồ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra,truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
2. Về nội dung: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của người bị hại và các chứng cứ khách quan khác, đủ cơ sở kết luận:
Từ ngày 29/12/2021 đến ngày 17/4/2022, M Nhật Linh, bằng thủ đoạn gian dối gửi các bản ảnh chuyển tiền giả trên ứng dụng mạng xã hội facebook cho chị M nhằm lừa đảo chiếm đoạt tài sản của chị Lê Thị Phương M có tổng trị giá là 453.753.000đ (bốn trăm năm mươi ba triệu bảy trăm năm mươi ba nghìn đồng). Ngày 19/4/2022, M NhậtL ra Cơ quan Công an đầu thú.
Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định tại điều 174 Bộ luật hình sự. Với giá trị tài sản mà bị cáo chiếm đoạt nêu trên thì bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự theo điểm a khoản 3 điều 174 của Bộ luật hình sự.
Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản được Luật hình sự bảo vệ, gây mất trật tự trị an xã hội. Do cần tiền chi tiêu cho cá nhân nên đã giả mạo bản ảnh trả tiền giả, lợi dụng lòng tin của người bị hại để chiếm đoạt tài sản vì vậy cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn với mức hình phạt nghiêm khắc mới đủ sức răn đe giáo dục bị cáo thành người lương thiện, có ích cho xã hội và phòng ngừa chung.
Tình tiết tăng nặng: Bị cáo phạm tội nhiều lần nên phải chịu tình tiết tăng nặng theo điểm g khoản 1 điều 52 Bộ luật hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo khai báo thành khẩn của bị cáo tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà, người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt. Lần đầu bị đưa ra xét xử, đây là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1, 2 điều 51 Bộ luật hình sự.
Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Trong quá trình giải quyết, gia đình bị cáo đã khắc phục thanh toán cho người bị hại 40.000.000đ. Tuy nhiên tại đơn trình bày, chị Lê Thị Phương M vẫn yêu cầu bị cáo tiếp tục bồi thường số tiền còn lại theo quy định và tại phiên tòa hôm nay bị cáo nhất trí bồi thường cho người bị hại là 413.753.000đ.
Về dân sự: Buộc bị cáo bồi thường cho chị Lê Thị Phương M 413.753.000đ
Vật chứng vụ án: Áp dụng điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu sung công 01 điện thoại và 01 máy tính xách tay nhãn hiệu Dell.
Bị cáo phải nộp án phí hình sự và án phí dân sự sơ thẩm.
Bị cáo, người bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Mai Nhật L phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”
Áp dụng điểm a khoản 3 điều 174; Điều 38; Điểm s khoản 1, 2 điều 51; Điểm g khoản 1 điều 52 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Mai Nhật L 09 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 19/4/2022.
Áp dụng các điều 584, 585 của Bộ luật dân sự.
Áp dụng điều 136, điều 331, điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội.
Về dân sự: Buộc bị cáo Mai Nhật L phải bồi thường cho chị Lê Thị Phương M số tiền 413.753.000đồng.
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi đối với khoản nợ gốc kể từ sau ngày tuyên bản án sơ thẩm cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này, theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Vật chứng vụ án: Áp dụng điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu sung công 01 máy tính xách tay nhãn hiệu Dell màu đen đã qua sử dụng được niêm phong và có chữ ký của bị cáo Mai Nhật L và đóng dấu của cơ quan CSĐT; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi màu xanh đã qua sử dụng. Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 01/12/2022 giữa cơ quan Cảnh sát Điều tra – Công an quậnT với Chi cục Thi hành án dân sự quận Tây Hồ.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án và phải nộp 200.000 đồng án phí HSST và 20.550.120đ án phí DSST.
Chị Lê Thị Phương M vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.
| Nơi nhận: -Những người tham gia tố tụng -VKS ND quận Tây Hồ - Công an quận Tây Hồ - Chi cục THA dân sự quận Tây Hồ -Lưu HS | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Đào Đức Cần |