vanban.org

Bản án 09/2023/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Ngũ Hành Sơn, TP Đà Nẵng Tuyên án 22/02/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Đoàn Ngọc D phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

1/ Căn cứ: Điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự; điểm b, r, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Điểm g, h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Bị cáo Đoàn Ngọc D 4 (bốn) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 12/10/2022. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "trộm cắp tài sản điều 173 - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Đoàn Ngọc D phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN NGŨ HÀNH SƠN
TP. ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 09/2023/HS-ST
Ngày: 22 - 02 - 2023

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGŨ HÀNH SƠN, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lương Thị Anh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông: Nguyễn Tuấn Ngọc

Ông: Mai Văn Ba

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quỳnh Trang - Là Thư ký Tòa án nhân dân quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng.

Đại diệnViện Kiểm sát nhân dân quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Tâm - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở Ủy ban nhân dân phường Hòa Quý, quận Ngũ Hành Sơn xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 06/2022/HS-ST ngày 17 tháng 01 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 04/2023/QĐXXST - HS ngày 07 tháng 2 năm 2023 đối với bị cáo: Đoàn Ngọc D.

Họ và tên: Đoàn Ngọc D; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 18/10/1988, tại: Quảng Nam; Nơi ĐKHKTT: Thôn N, xã Đ, thị xã Đ, tỉnh Q; Chỗ ở: Nhà số 80 đường Đ, P. H, Q. C, TP. Đ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp:Công nhân; Trình độ văn hóa: 09/12; Tiền án: Ngày 28/6/2019, bị Tòa án nhân dân thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam xử phạt 18 tháng tù về tội Cướp giật tài sản (Bản án số 40/2019/HSST ngày 28/6/2019). Ra trại ngày 08/7/2020. Tiền sự: Không; cha: Đoàn Ngọc H và mẹ: Lê Thị C; Gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ nhất; Vợ: Trần Thị H; bị cáo có 01 con nhỏ sinh năm 2014.

Bị cáo bị bắt ngày 12/10/2022 hiện đang bị tạm giam có mặt tại phiên tòa.

*Người bị hại:

- Anh Nguyễn Văn N, sinh năm: 1991. Địa chỉ: tổ 01, phường Hòa Quý, quận Ngũ Hành Sơn, TP Đà Nẵng. Vắng mặt.

- Anh Nguyễn Vũ V, sinh năm: 1990. Địa chỉ: tổ 60, phường Hòa Quý, quận Ngũ Hành Sơn, TP Đà Nẵng. Vắng mặt.

- Chị Nguyễn Thị H, sinh năm: 1992. Địa chỉ: tổ 06, phường Hòa Quý, quận Ngũ Hành Sơn, TP Đà Nẵng. Vắng mặt.

- Chị Lưu Thị Minh Ph, sinh năm: 1987. Địa chỉ: tổ 47, phường Hòa Quý, quận Ngũ Hành Sơn, TP Đà Nẵng. Vắng mặt.

- Chị Trần Thị Minh Th, sinh năm: 1988. Địa chỉ: tổ 60, phường Hòa Quý, quận Ngũ Hành Sơn, TP Đà Nẵng. Vắng mặt.

- Chị Nguyễn Thị N, sinh năm: 1995. Địa chỉ: tổ 39, phường Hòa Quý, quận Ngũ Hành Sơn, TP Đà Nẵng. Vắng mặt.

- Chị Nguyễn Thị Y, sinh năm: 1985. Địa chỉ: Số 30 Quán Khái 6, tổ 26, phường Hòa Hải, quận Ngũ Hành Sơn, TP Đà Nẵng. Vắng mặt.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

- Ông Đoàn Ngọc H, sinh năm: 1968. Địa chỉ: Thôn Nông Sơn 2, xã Điện Phước, thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Vắng mặt.

- Chị Đoàn Thị Xuân D, sinh năm: 1996. Địa chỉ: xã Điện Phước, thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Có mặt.

- Anh Lê Phỉ l, sinh năm: 1981. HKTT: Thôn Viêm Tây 2, xã Điện Thắng Bắc, thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong khoảng thời gian từ ngày 29/4/2022 đến ngày 08/10/2022, Duy đã thực hiện 07 vụ trộm cắp tài sản trên địa bàn quận Ngũ Hành Sơn cụ thể như sau:

Vụ thứ 1: Khoảng 20 giờ ngày 29/4/2022, D điều khiển xe mô tô BKS: 92S2 - 3523 đến khu vực đường Bình Kỳ thuộc tổ 01, P. Hòa Quý, Q. Ngũ Hành Sơn, TP. Đà Nẵng thì thấy nhà anh Nguyễn Văn N mở cửa, trong nhà không có ai nên Duy dựng xe trước nhà rồi đi vào phòng khách và phát hiện một Ipad màu Gold để ở trên nền nhà nên lấy trộm rồi bỏ đi. Sau khi trộm cắp tài sản, Duy đem đến đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa bán cho một thanh niên (không rõ nhân thân, lai lịch; không nhớ chính xác vị trí bán) với giá 1.000.000 đồng và tiêu xài cá nhân hết.

Vụ thứ 2: Khoảng 09 giờ ngày 07/5/2022, Duy điều khiển xe mô tô BKS: 92S2

- 3523 đến khu vực đường Lưu Quang Vũ thuộc tổ 60, P. Hòa Quý, Q. Ngũ Hành Sơn, TP. Đà Nẵng thì thấy nhà anh Nguyễn Vũ V đóng cổng, cửa chính mở nhưng không có người trong nhà nên D dựng xe trước cổng nhà rồi trèo vào nhà thì phát hiện một laptop hiệu Asus pro, màu đen đang để trên bàn trong phòng ngủ nên trộm cắp rồi trèo ra cửa sổ tẩu thoát. Sau khi trộm cắp tài sản, D đem đến một cửa hàng điện tử (không nhớ tên, địa chỉ) bán với giá 2.200.000 đồng và tiêu xài cá nhân hết.

Vụ thứ 3: Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 08/5/2022, D điều khiển xe mô tô BKS: 92S2 - 3523 đến đường Bình Kỳ thuộc tổ 06, P. Hòa Quý, Q. Ngũ Hành Sơn, TP. Đà Nẵng thì thấy nhà chị Nguyễn Thị H mở cửa, không có ai trong nhà nên Duy dừng xe trước cổng rồi đi vào nhà thì phát hiện một Ipad Apple Gen 9, màu đen để trên ghế sofa và một laptop hiệu Assus, màu xám đang sạc pin để trên bàn ở phòng khách nên lấy trộm. Sau khi trộm cắp tài sản, Dđem đến một cửa hàng điện tử ở quận Cẩm Lệ, TP. Đà Nẵng (không nhớ tên, địa chỉ) bán với giá 3.000.000 đồng và tiêu xài cá nhân hết.

Vụ thứ 4: Khoảng 13 giờ ngày 16/5/2022, Duy điều khiển xe mô tô BKS: 92S2 – 3523 đến khu dân cư Thị An thuộc tổ 47, P. Hòa Quý, Q. Ngũ Hành Sơn, TP. Đà Nẵng thì thấy nhà chị Lưu Thị Minh Ph mở cửa, không có ai trong nhà nên D dừng xe trước cổng rồi đi vào nhà thì phát hiện một laptop hiệu Compaq, màu đen để trên kệ tủ tivi ở phòng khách nên lấy trộm. Sau đó, D đem tài sản trộm cắp đến khu vực quận Cẩm Lệ, TP. Đà Nẵng bán cho một người đi đường (không rõ nhân thân, lai lịch) với giá 2.000.000 đồng và tiêu xài cá nhân hết.

Vụ thứ 5: Khoảng 18 giờ 45 phút ngày 18/5/2022, D điều khiển xe mô tô BKS: 92S2 – 3523 đến khu vực đường Lưu Quang Vũ thuộc tổ 60, P. Hòa Quý, Q. Ngũ Hành Sơn, TP. Đà Nẵng thì thấy nhà chị Trần Thị Minh Th mở cửa, không có ai trong nhà nên Ddừng xe trước cổng rồi đi vào nhà và phát hiện một điện thoại di động hiệu Oppo F11 Pro, màu tím, đang sạc pin để ở phòng khách nên trộm cắp. Sau đó, D đem tài sản trộm cắp đến khu vực quận Cẩm Lệ, TP. Đà Nẵng bán cho một người đi đường (không rõ nhân thân, lai lịch) với giá 1.300.000 đồng và tiêu xài cá nhân hết.

Vụ thứ 6: Khoảng 20 giờ 50 phút ngày 02/7/2022, Duy điều khiển xe mô tô BKS: 92S2 – 3523 đến khu vực Vân Đài Nữ Sĩ thuộc tổ 39, P. Hòa Quý, Q. Ngũ Hành Sơn, TP. Đà Nẵng thì thấy nhà chị Nguyễn Thị N mở cửa, không có ai trong nhà nên D dừng xe trước cổng rồi đi vào nhà và phát hiện một điện thoại di động Iphone 11, màu tím để trên ghế trong phòng khách nên trộm cắp. Sau đó, D đem tài sản trộm cắp đến khu vực quận Cẩm Lệ, TP. Đà Nẵng bán cho một người đi đường (không rõ nhân thân, lai lịch) với giá 1.000.000 đồng và tiêu xài cá nhân hết.

Vụ thứ 7: Khoảng 20 giờ ngày 08/10/2022, Duy điều khiển xe mô tô BKS: 92S2 – 3523 đến khu vực đường Quán Khái 6 thuộc tổ 26, P. Hòa Hải, Q. Ngũ Hành Sơn, TP. Đà Nẵng thì thấy nhà chị Nguyễn Thị Y mở cửa, không có ai trong nhà nên D dừng xe trước cổng rồi đi vào nhà và phát hiện một túi xách màu đen, mở ra kiểm tra Duy thấy bên trong có một laptop hiệu HP màu bạc, một chuột máy tính màu đen, và một miếng lót chuột máy tính nên lấy trộm toàn bộ tài sản trên. Đến khoảng 10 giờ ngày 09/10/2022, D điều khiển xe máy BKS: 92S2 – 3523 đem tài sản trộm được đến khu vực cầu Tứ Câu (Điện Ngọc, Quảng Nam) tại đây D vứt túi xách bên trong có một chuột máy tính màu đen, và một miếng lót chuột máy tính xuống sông, rồi mang laptop đến cửa hàng mua bán máy tính Phi Liêm, địa chỉ: Quốc lộ 1A, Điện Thắng Bắc, Điện Bàn, Quảng Nam do anh Lê Phỉ l làm chủ bán với giá 2.300.000 đồng và tiêu xài cá nhân hết.

Đến 11 giờ 45 phút ngày 12/10/2022, Cơ quan CSĐT – Công an quận Ngũ Hành Sơn phát hiện Đoàn Ngọc D có nhiều biểu hiện nghi vấn nên mời về trụ sở để làm việc và D đã thừa nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản như trên

Theo Bản kết luận định giá tài sản tổng cộng bị cáo Đoàn Ngọc D chiếm đoạt 63.775.000 đồng.

Với nội dung trên, tại bản cáo trạng số 13/CT- VKS ngày 16/01/2023 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng đã truy tố bị cáo Đoàn Ngọc D về tội “Trộm cắp tài sản ” quy định tại điểm c Khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

* Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng thực hành quyền công tố nhà nước vẫn giữ nguyên quan điểm đã truy tố Đoàn Ngọc D về tội danh như đã nói trên và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố Đoàn Ngọc D phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng điểm c Khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự; điểm b, r, s khoản 1, 2 Điều 51; Điểm g, h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt Đoàn Ngọc D từ 4 năm đến 5 năm tù giam.

Về xử lý vật chứng: Đối với 07 file video ghi nhận diễn biến hành vi trộm cắp của Đoàn Ngọc D, đây là chứng cứ của vụ án đề nghị tiếp tục lưu giữ trong hồ sơ vụ án.

- Các vật chứng 01 laptop hiệu HP 15s-fq2663TU (6K796PA) (i3-1115G4) màu bạc; 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius BKS: 92S2-3523, thuộc sở hữu của ông Đoàn Ngọc H đã trả lại cho ông H ; số tiền 4.060.000 đồng, qua điều tra xác định đây là tiền Duy mượn của chị Đoàn Thị Xuân D đã được Cơ quan CSĐT - Công an quận Ngũ Hành Sơn đã trả lại cho chị Diệu là có cơ sở nên không đề cập đến.

* Về phần dân sự: Các người bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường gì thêm nên không xem xét.

Đối với ông Lê Phỉ l đã có hành vi mua 01 laptop hiệu HP màu bạc, tuy nhiên lúc mua ông Liên không biết đây là tài sản do Duy trộm cắp mà có. Do đó, Cơ quan CSĐT - Công an quận Ngũ Hành Sơn không xử lý là có căn cứ.

- Đối với những người mua tài sản do Duy trộm cắp được ở vụ 1 - vụ 6, hiện chưa xác minh được nhân thân, lai lịch. Cơ quan CSĐT - Công an Q. Ngũ Hành Sơn, TP. Đà Nẵng sẽ tiếp tục điều tra, xác minh xử lý sau.

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội và không có ý kiến tranh luận gì với phần luận tội của Kiểm sát viên.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đã nhận thức rõ hành vi phạm tội của mình và mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo chấp hành án tốt sớm về với gia đình nuôi con nhỏ.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Ngũ Hành Sơn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa sơ thẩm hôm nay, bị cáo Đoàn Ngọc D đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo, xét lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của các người bị hại và cùng các tài liệu điều tra thu thập đầy đủ có tại hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở để xác định như sau: Từ ngày 29/4/2022 đến ngày 08/10/2022, Đoàn Ngọc D đã thực hiện 07 vụ trộm cắp tài sản là các thiết bị điện tử: Ipad, điện thoại di đông, laptop trên địa bàn quận Ngũ Hành Sơn với tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 63.775.000 đồng. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét hành vi phạm tội thì thấy: Bị cáo có ý định trộm cắp tài sản từ trước nên khoảng thời gian từ ngày 29/4/2022 đến ngày 08/10/2022, Đoàn Ngọc D đã dùng xe máy điều khiển đi trên tuyến đường thuộc quận Ngũ Hành Sơn tìm sơ hở về quản lý tài sản của các người bị hại để thực hiện 07 vụ trộm cắp tài sản gồm các thiết bị điện tử: Ipad, điện thoại di động, laptop với tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 63.775.000 đồng và bán tiêu xài cá nhân. Hành vi này là lỗi cố ý đủ yếu tố cấu thành tội“Trộm cắp tài sản” được qui định tại điểm c khoản 2 Điều 173 BLHS.

Xét tính chất vụ án thì thấy, bị cáo còn trẻ, có sức khỏe lẽ ra phải lao động lương thiện nuôi sống bản thân cũng như góp phần có ích cho xã hội, nhưng ngược lại bị cáo lười lao động muốn hưởng thụ dễ dàng mặc dù biết hành vi chiếm đoạt tài sản này là trái pháp luật. Hành vi này xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an, an toàn xã hội, gây tâm lý hoang mang trong quần chúng nhân dân tại địa phương.

Xét nhân thân của bị cáo thì thấy: Bị cáo có 01 tiền án ngày 28/6/2019, bị Tòa án nhân dân thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam xử phạt 18 tháng tù về tội Cướp giật tài sản (Bản án số 40/2019/HSST ngày 28/6/2019). Chấp hành án về tại địa phương ngày 08/7/2020 chưa hết thời hạn xóa án tích, bị cáo đã thực hiện trộm cắp nên phạm tội lần này thuộc trường hợp tái phạm, đồng thời bị cáo thực hiện nhiều vụ trộm cắp thuộc qui định Phạm tội 02 lần trở lên. Đây là các tình tiết tăng nặng được quy định tại các Điểm g, h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Quá trình điều tra, bị cáo Đoàn Ngọc D thành khẩn khai báo; tự thú về các lần phạm tội của mình; bị cáo đã bồi thường thiệt hại cho các bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan; các bị hại có đơn giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại các điểm b, r, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để nhằm giáo dục riêng cũng như phòng ngừa chung.

Về xử lý vật chứng:

- Đối với 07 file video ghi nhận diễn biến hành vi trộm cắp của Đoàn Ngọc D, đây là chứng cứ của vụ án cần tiếp tục lưu giữ trong hồ sơ vụ án.

- Các vật chứng 01 laptop hiệu HP 15s-fq2663TU (6K796PA) (i3-1115G4) màu bạc; 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius BKS: 92S2-3523, thuộc sở hữu của ông Đoàn Ngọc H đã trả lại cho ông Hoàng ; số tiền 4.060.000 đồng, qua điều tra xác định đây là tiền Duy mượn của chị Đoàn Thị Xuân D đã được Cơ quan CSĐT - Công an quận Ngũ Hành Sơn đã trả lại cho chị Diệu là có cơ sở nên không đề cập đến.

Về phần dân sự: Các người bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bòi thường gì thêm nên không xem xét.

Đối với ông Lê Phỉ l đã có hành vi mua 01 laptop hiệu HP màu bạc, tuy nhiên lúc mua ông Liêm không biết đây là tài sản do D trộm cắp mà có. Do đó, Cơ quan CSĐT - Công an quận Ngũ Hành Sơn không xử lý là có căn cứ.

Đối với những người mua tài sản do D trộm cắp, hiện chưa xác minh được nhân thân, lai lịch. Cơ quan CSĐT - Công an Q. Ngũ Hành Sơn, TP. Đà Nẵng sẽ tiếp tục điều tra, xác minh xử lý sau.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng.

Xét các đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa hôm nay phù hợp với nhận định của HĐXX nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Đoàn Ngọc D phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

1/ Căn cứ: Điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự; điểm b, r, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Điểm g, h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Đoàn Ngọc D 4 (bốn) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 12/10/2022.

2/ Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tuyên:

Tiếp tục lưu giữ trong hồ sơ vụ án đối với 07 file video ghi nhận diễn biến hành vi trộm cắp của Đoàn Ngọc D.

3/ Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng.

Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng các người bị hại và người liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yieets trích sao kết quả phiên tòa.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ