- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Quang T trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy 01 đoạn dây thừng (Chi tiết tại Biên bản giao nhận vật chứng ngày 04/01/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện A, thành phố Hải Phòng).
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN A THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 09/2023/HS-ST Ngày 02-02-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN A, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Văn Dũng
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Đỗ Thế Anh
Bà Hoài Thị Hà Khuyên
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Chính - Thư ký Toà án nhân dân huyện A, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện A, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Trương Thị Thanh Nhàn - Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 02 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện A, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 02/2023/TLST-HS ngày 05/01/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 02/2023/QĐXXST-HS ngày 06/01/2023 và Thông báo thay đổi thời gian mở phiên tòa số 01/TB-TA ngày 16 tháng 01 năm 2023 đối với các bị cáo:
Nguyễn Quang T sinh ngày 20/6/1988 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Thôn L, xã N, huyện A, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Q và bà Mai Thị L, chưa có vợ con; tiền án: Bản án số 49/2020/HS-ST ngày 03/9/2020 Tòa án nhân dân huyện A xử phạt Nguyễn Quang T 12 tháng tù tội Trộm cắp tài sản; chấp hành xong hình phạt tù ngày 18/06/2021; chưa thi hành án phí; tiền sự: Năm 2017 đi cai nghiện bắt buộc tại Trung tâm Giáo dục lao động xã hội số 2 tại T, Hải Phòng; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ từ ngày 26/9/2022, đến ngày 05/10/2022 chuyển tạm giam; có mặt.
Dương Quang H sinh ngày 18/02/1987 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Thôn Q, xã N, huyện A, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Dương Quang T và bà Lê Thị X; có vợ Trần Thị T và có 02 con; tiền án, tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ từ ngày 26/9/2022, đến ngày 05/10/2022 chuyển tạm giam; có mặt.
- Bị hại:
Công ty Trách nhiệm Hữu hạn xây dựng L; địa chỉ: Số 1100 P, quận D, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
Chị Cao Thị Phương T sinh năm 1982, địa chỉ: T2, thị trấn A, huyện A, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Đêm 14/9/2022, tại đoạn đường thuộc thôn L, xã N, huyện A, Hải Phòng, Nguyễn Quang T, Đỗ Hồng S phát hiện thấy một chiếc container hoán cải thành nhà tạm dựng bên bờ sông R của Công ty TNHH xây dựng L, địa chỉ: 1100 P, quận D có lắp điều hòa nhiệt độ nên nảy sinh ý định trộm cắp. Đến khoảng 23 giờ ngày 15/9/2022 S điều khiển xe mô tô Winner màu đen, không đeo biển kiểm soát đến nhà T rủ “Anh em đi phang cái cục nóng ở trên kia đi”. T đồng ý, mang theo 01 kìm bằng kim loại ngồi sau xe Sơn đi đến chỗ chiếc container trên. Sau khi kiểm tra không có ai, T cầm kìm trèo lên nóc container đến chỗ đặt dàn nóng điều hòa, cắt 01 ống đồng để xì hơi gas, rồi nhảy xuống cùng S chạy ra xa khoảng 50m, ngồi chờ đến khi hết gas thì quay lại. T trèo lên nóc container cắt nốt ống đồng còn lại. Sơn tháo ốc vít, ở dưới đỡ dàn nóng xuống, rồi bê lên yên xe để. S điều khiển xe, T ngồi phía sau giữ dàn nóng điều hòa, đem về cất giấu phía nhà T.
Sáng 23/9/2022, T gọi điện thoại cho Dương Quang H làm nghề mua bán sắt vụn để bán dàn nóng trên, H bảo gửi ảnh để H xem. Sau khi xem ảnh, H hỏi “Cục lạnh đâu” thì T trả lời “không lấy được” nên H bảo “để tao qua xem”. Đến chiều cùng ngày, T và S đang ở nhà thì H đến xem và nói “Cái này chỉ bán sắt vụn thôi, khoảng 200.000 đến 300.000 đồng”. T bảo H tìm người mua hộ thì H đồng ý.
Chiều 23/9/2022, T và S thấy trước nhà số 660 Q, xã N, huyện A cỏ mọc um tùm, đoán không có người ở nên S bàn với Th vào lấy điều hòa cho đủ bộ. Đến đêm cùng ngày, Sơn điều khiển xe Honda Dream màu trắng, đen (không nhớ BKS) cùng người yêu là Nguyễn Thị M (tên gọi khác: L), sinh năm 1996, trú tại thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương đến nhà T, T lấy 01 gọng gà để ở võng xe, lên xe cùng đến nhà số 660. Sơn bảo L đi chỗ khác, bao giờ gọi điện thì đến đón. Sau đó, S dùng gọng gà bậy cửa cuốn lên, còn T dùng gạch và gỗ gần đó chêm vào, nâng cửa lên được 30cm thì cả hai chui vào trong lấy được 02 bộ ấm chén, 01 con nghê cho vào túi bóng, 01 dàn lạnh điều hòa nhãn hiệu Daikin, sau đó dùng dây thừng thả từ trên xuống dưới sang lô đất trống bên cạnh. S tháo máy lọc nước ở tầng 3 xuống nhưng nghĩ không bán được nên để lại hiên tầng 2; xong cả hai trèo qua cây sấu xuống dưới, S gọi cho M đến đón. M đi xe máy của S đến, S điều khiển xe, cho cục lạnh vào võng xe, treo túi bóng chứa 02 bộ ấm chén và con nghê vào móc xe, chở M và T về nhà T cất giấu tài sản trộm cắp được, con nghê S mang về nhà.
Ngày 25/9/2022, T gọi điện cho H nói “Có cả bộ rồi anh xem có chỗ bán không”. H đi xe có giá chở hàng đến xem và đồng ý bán hộ. T khiêng cục nóng và cục lạnh điều hòa lên xe của H và nói: “cục lạnh em mới lấy ở nhà hoang kia”. Sau đó, T lấy thêm 01 bộ điều hòa nhãn hiệu Gree để lên xe H. T, H, S chở 02 bộ điều hòa đến quán thu mua đồ điện lạnh cũ của anh Vũ Xuân T, sinh năm 1978, ở C, N, A, Hải Phòng bán được 3.000.000 đồng, S cho H 500.000 đồng. T bán 01 bộ ấm chén bán cho ông Mai Văn T - sinh năm 1965, cạnh nhà T được 800.000 đồng. Số tiền bán được tài sản T, S ăn tiêu hết.
Ngày 26/9/2022 Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an huyện A giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Nguyễn Quang T và Dương Quang H, Đỗ Hồng S bỏ trốn không có mặt tại địa phương. Khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Quang T ở thôn L, xã N, huyện A thu giữ 01 bộ ấm chén có in logo “Bảo Việt nhân thọ”. Khám xét khẩn cấp nơi ở của Đỗ Hồng S ở thôn M, xã N, huyện A thu giữ 01 con nghê màu vàng.
Khám nghiệm hiện trường tại nhà 660 Q, xã N, huyện A thấy một số dấu vết đường vân, qua giám định là của Nguyễn Quang T, 01 nắp nhựa màu trắng của dàn lạnh điều hòa, 01 máy lọc nước và 01 đoạn dây thừng.
Anh Vũ Xuân T đã tự nguyện giao nộp cho Cơ quan điều tra: 01 dàn nóng điều hòa vỏ màu trắng, không rõ nhãn hiệu; 01 dàn lạnh điều hòa nhãn hiệu Daikin; 01 dàn lạnh, 01 dàn nóng điều hòa nhãn hiệu Gree. Ông Mai Văn T đã tự nguyện giao nộp cho Cơ quan điều tra: 01 bộ ấm chén bằng sứ bọc hoa văn bằng kim loại màu vàng.
Kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện A kết luận: 01 dàn nóng điều hòa không rõ nhãn hiệu, đã qua sử dụng, vỏ màu trắng trị giá 1.800.000 đồng; 01 dàn lạnh điều hòa nhãn hiệu Daikin, vỏ màu trắng, đã qua sử dụng trị giá 2.200.000 đồng; 01 bộ ấm chén bằng sứ màu trắng ngà, bọc hoa văn bằng kim loại màu vàng đã qua sử dụng trị giá 330.000 đồng; máy lọc nước nhãn hiệu Reverse Osmsis loại 8 lõi lọc, đã qua sử dụng trị giá 1.740.000 đồng 01 mô hình con nghê trị giá 176.000 đồng; 01 bộ ấm chén có in logo “Bảo Việt Nhân Thọ” trị giá 500.000 đồng.
Tại Cơ quan điều tra, T khai nhận hành vi như đã nêu trên. Đối với 01 dàn nóng và 01 dàn lạnh điều hòa nhãn hiệu Gree, T khai là của Nguyễn Văn M, sinh năm 1979, ở thôn M, xã N, huyện A trộm cắp được vào ngày 20/9/2022 sau đó đem gửi ở nhà T nhờ bán hộ.
Về vật chứng vụ án gồm: Cơ quan điều tra đã trả lại toàn bộ tài sản T và S trộm cắp cho chủ sở hữu là Công ty L và chị Cao Thị Phương T. Đối với 01 đoạn dây thừng là công cụ T và S dùng để trộm cắp tài sản, chuyển chi cục thi hành án dân sự để giải quyết theo thẩm quyền.
Về trách nhiệm dân sự: Công ty Trách nhiệm Hữu hạn xây dựng L và chị Cao Thị T không yêu cầu bồi thường. Anh Vũ Xuân T, ông Mai Văn T không yêu cầu các bị can phải trả lại số tiền đã mua tài sản.
Tại phiên tòa các bị cáo trình bày thống nhất về hành vi như đã nêu trên.
Cáo trạng số 04/2022/CT-VKS ngày 30/12/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện A truy tố bị cáo Nguyễn Quang T về tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự (BLHS); truy tố bị cáo Dương Quang H về tội Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có theo khoản 1 Điều 323 của BLHS. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51của BLHS xử phạt bị cáo Nguyễn Quang T từ 18 đến 24 tháng tù; áp dụng khoản 1 Điều 323; Điều 38; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51của BLHS xử phạt bị cáo Dương Quang H từ 12 đến 18 tháng tù; miễn hình phạt bổ sung đối với các bị cáo; tịch thu tiêu hủy 01 đoạn dây thừng. các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Nói lời sau cùng các bị cáo nhận thức rõ hành vi phạm tội, hậu quả của tội phạm đã thực hiện; mong nhận được sự khoan hồng của pháp luật và giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định trong quá trình tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện A và Điều tra viên, của Viện kiểm sát nhân dân huyện A và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo và những người khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về những chứng cứ xác định có tội, chứng cứ xác định không có tội: Hành vi vào đêm ngày 14/9/2022 Nguyễn Quang T và Đỗ Hồng S có hành vi lén lút lấy 01 dàn nóng điều hòa của Công ty Trách nhiệm Hữu hạn xây dựng L trị giá 1.800.000 đồng, đêm 23/9/2022, T và S tiếp tục có hành vi lén lút lấy 01 dàn lạnh điều hòa trị giá 2.200.000 đồng, 02 bộ ấm chén trị giá 830.000 đồng và 01 mô hình con nghê trị giá 176.000 đồng của gia đình chị Cao Thị Phương T. Tổng trị giá tài sản hai lần T và S trộm cắp là 5.006.000 đồng là phạm tội Trộm cắp tài sản quy định tại khoản 1 Điều 173 của BLHS. Dương Quang H biết rõ tài sản do T và S trộm cắp mà có nhưng vẫn giúp tiêu thụ 01 dàn nóng và 01 dàn lạnh điều hòa nên là phạm tội Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có theo khoản 1 Điều 323 của BLHS. Các chứng cứ xác định bị cáo không có tội được loại trừ.
Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác. Bị cáo T chưa chấp hành xong hình phạt tại bản án số 49/2020/HS-ST ngày 03/9/2020 Tòa án nhân dân huyện A nên lần phạm tội này phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự Tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của BLHS. Bị cáo H không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Do thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên các bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của BLHS; bị cáo H phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; có bố mẹ là người có công với Nhà nước, được tặng thưởng Huân chương và kỷ niệm chương nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của BLHS.
Về hình phạt: Với phân tích trên, cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn và xử phạt bị cáo mức án bằng mức khởi điểm như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp. Khoản 5 Điều 173 và khoản 5 Điều 323 của BLHS quy định người phạm tội còn có thể bị phạt tiền, do hoàn cảnh của bị cáo khó khăn nên không áp dụng.
Về vật chứng vụ án gồm: 01 đoạn dây thừng là công cụ T và S dùng để trộm cắp tài sản cần tịch thu tiêu hủy.
Về những vấn đề khác: Vụ án này không có dấu hiệu của việc bỏ lọt tội phạm hoặc hành vi phạm tội mới nên Hội đồng xét xử không phân tích chứng cứ để xem xét việc khởi tố vụ án hay yêu cầu Viện kiểm sát khởi tố vụ án hình sự. Bị hại không yêu cầu bồi thường khoản nào khác nên không xét. Đỗ Hồng S sau khi phạm tội bỏ trốn tại địa phương; Cơ quan điều tra đã ra Quyết định truy nã khi nào bắt được sẽ xử lý sau là phù hợp pháp luật. Nguyễn Thị M không thừa nhận việc đến đón T và S như lời khai của T, không biết việc T, Sơn trộm cắp tài sản. Hiện nay, M không có mặt tại địa phương nên Cơ quan điều tra tách ra, tiếp tục điều tra làm rõ xử lý sau là phù hợp pháp luật. Anh Vũ Xuân T và ông Mai Văn T, khi mua tài sản không biết do các đối tượng trộm cắp mà có nên Cơ quan điều tra không xử lý hình sự là có căn cứ. Chiếc xe mô tô BKS 16F6-5152 T dùng để chở tài sản đi tiêu thụ do T mua lại, sau đó đã bán cho người khác không quan biết nên không thu hồi được nên không xử lý. Hành vi T cất giấu và bán hộ Nguyễn Văn M 01 dàn nóng, 01 dàn lạnh điều hòa nhãn hiệu Gree do M trộm cắp mà có, hiện nay M đang bị truy nã nên cơ quan điều tra tách ra làm rõ xử lý sau là phù hợp pháp luật.
Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; xử phạt: Nguyễn Quang T 18 (mười tám) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ là ngày 26/9/2022.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 323; Điều 38; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; xử phạt: Dương Quang H 12 (mười hai) tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ là ngày 26/9/2022.
Về vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy 01 đoạn dây thừng (Chi tiết tại Biên bản giao nhận vật chứng ngày 04/01/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện A, thành phố Hải Phòng).
Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án; mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Bị hại; - VKSND huyện A; - VKSND thành phố Hải Phòng; - Cơ quan điều tra CA huyện A; - Cơ quan THAHSCA huyện An D; - TAND thành phố Hải Phòng; - Chi cục THADS huyện A; - Sở Tư pháp thành phố Hải Phòng; - PC10, PV06 CATP Hải Phòng; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Văn Dũng |