vanban.org

Bản án 09/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái Tuyên án 06/06/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Về hình phạt: Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, p,q, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 (năm) năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (06-6-2023). Trong thờ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn T - cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ…"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN YÊN BÌNH
TỈNH YÊN BÁI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 09/2023/HS - ST
Ngày 06-6-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN BÌNH – TỈNH YÊN BÁI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Thanh Nga

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Ngọc Đức

2. Ông Lương Kiều Vũ

- Thư ký phiên toà: Bà Đinh Thị Kim Thao - Thư ký Toà án nhân dân huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Bình tham gia phiên toà: Bà Hà Minh Loan - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 09/2023/HSST ngày 14/4/2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 08/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 5 năm 2023, đối với bị cáo:

Nguyễn Văn T (tên gọi khác: Không), sinh ngày 24 tháng 12 năm 1991 tại huyện Y, tỉnh Yên Bái; Nơi cư trú: Thôn Đ, xã V, huyện Y, tỉnh Yên Bái; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 11/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Văn T và bà Vũ Thị N; Vợ: Lò Thị T, sinh năm 1989 (đã ly hôn), con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị áp dụng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Hiện tại ngoại tại nơi cư trú; Có mặt tại phiên tòa.

Người bào chữa cho bị cáo: Ông Hoàng Trọng Hồng - Luật sư Văn phòng luật sư Hồng Đức thuộc Đoàn luật sư tỉnh Yên Bái; Có mặt.

Bị hại:

Anh Đinh Văn Q, địa chỉ: Khu Đ, xã M, huyện Y, tỉnh Phú Thọ; Vắng mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Bà Đỗ Thị B, địa chỉ: Tổ 8, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Yên Bái; Vắng mặt.

Người làm chứng:

1. Anh Vi Hải N, địa chỉ: Thôn T, xã P,, huyện Y, tỉnh Yên Bái; vắng mặt

2. Chị Lò Thị T, địa chỉ: Bản H2, xã H, huyện T, tỉnh Yên Báí; Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 07-11-2022, Nguyễn Văn T gọi điện và hẹn gặp chị Lò Thị T đến trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Bình để nhận quyết định ly hôn.Chị T có nhờ bạn là anh Đinh Văn Q đưa đến Tòa án nhân dân huyện Yên Bình để làm việc, đến khoảng 09 giờ ngày cùng ngày, khi anh Q điều khiển xe mô tô chở chị T đi đến trước xưởng cơ khí của gia đình bà Đỗ Thị B thuộc tổ 8, thị trấn Y, huyện Y thì dừng lại. Nguyễn Văn T nhìn thấy anh Q chở chị T đến, do trước đó Nguyễn Văn T cho rằng anh Q có quan hệ bất chính với vợ mình là chị Lò Thị T nên T đã dùng tay phải lấy 01 ống kim loại từ trong xưởng cơ khí nhà bà B chạy tới nơi anh Q và chị T đang dừng xe. Nguyễn Văn T vừa chửi, vừa dùng ống kim loại vụt nhiều phát vào tay phải và tay trái của anh Q làm xe mô tô của anh Q bị đổ, anh Qngã xuống đường. Nguyễn Văn T tiếp tục chửi và vụt 01 phát nữa vào tay trái của anh Q. Anh Vi Hải N cùng một số người dân vào can ngăn, anh N giật lấy ống kim loại của T cất vào trong xưởng, sự việc chấm dứt, anh Đinh Văn Q được người dân đưa đến Trung tâm Y tế huyện Yên Bình để điều trị thương tích đến ngày 08-11-2022, anh Quang được chuyển đến Bệnh viện đa khoa tỉnh Yên Bái để điều trị, đến ngày 14-11-2022 thì ra viện.

Tại bản kết luận giám định số 181/TgT, ngày 09-11-2022 của Trung tâm pháp y tỉnh Yên Bái đối với anh Đinh Văn Q: Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 14%. Cơ chế hình thành các vết thương tích do vật tày tác động một lực mạnh theo hướng trực diện gây nên.

Quá trình điều tra, Nguyễn Văn T trình bày bị bệnh tâm thần nên cơ quan điều tra đã tiến hành giám định đối với Nguyễn Văn T. Tại bản kết luận giám định số 181/KLGĐ, ngày 13-12-2022 của Trung tâm pháp y tâm thần khu vực miền núi phía Bắc kết luận:

1. Nguyễn Văn T bị bệnh Tâm thần phân liệt thể không biệt định - F20.3 (Theo phân loại bệnh Quốc tế lần thứ 10 năm 1992 về các rối loạn tâm thần và hành vi).

2. Tại thời điểm ngày 07/11/2022, Nguyễn Văn T bị bệnh Tâm thần Phân liệt thể không biệt định giai đoạn bệnh thuyên giảm, hạn chế khả năng nhận thức và hạn chế khả năng điều khiển hành vi.

3. Hiện tại Nguyễn Văn T bị bệnh Tâm thần phân liệt giai đoạn bệnh ổn định, đủ khả năng nhận thức và đủ khả năng điều khiển hành vi.

Quá trình điều tra Nguyễn Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên và bồi thường cho anh Đinh Văn Q với tổng số tiền 25.000.000đ (Hai mươi lăm triệu đồng). Đến nay, Đinh Văn Q không yêu cầu bị can phải bồi thường gì thêm.

Bản cáo trạng số 11/CT-VKS-YB ngày 14-4-2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Bình đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Bình giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị: Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, p,q, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù.

Về vật chứng và án phí: Tịch thu tiêu hủy 01 ống kim loại; về án phí: Bị cáo được miễn 200.000 đồng án phí HSST.

Người bào chữa trình bày quan điểm bảo vệ quyền, lợi ích cho bị cáo: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét bị cáo đã bồi thường thiệt hại cho người bị hại, bị cáo là người có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi, bị cáo bị khuyết tật nặng; bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và người bị hại có đơn đề nghị giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, p,q, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS. Do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 51 BLHS nên bị cáo có đủ điều kiện được áp dụng Điều 54, Điều 65 BLHS. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và cho bị cáo hưởng án treo.

Bị cáo khai báo thành khẩn, bị cáo tranh luận bản thân bị cáo khi tham gia quân đội chấp hành tốt kỷ luật thể hiện bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu nên bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Cơ quan điều tra Công an huyện Yên Bình, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Bình, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Việc thu thập các tài liệu, chứng cứ của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong vụ án đã đầy đủ, khách quan, hợp pháp.

. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của người bị hại, người làm chứng; phù hợp với kết luận giám định, vật chứng thu giữ và các chứng cứ, tài liệu khác được thu thập trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở xác định: Vào khoảng 09 giờ 00 phút ngày 07-11-2022 tại tổ 8, thị trấn Y, huyện Y. Nguyễn Văn T đã có hành vi dùng ống kim loại hình tròn đánh vào tay trái và tay phải của anh Đinh Văn Q. Hậu quả làm anh Đinh Văn Q bị tổn thương 14%, tại thời điểm gây thương tích cho anh Đinh Văn Q (07-11-2022), Nguyễn Văn T bị bệnh Tâm thần Phân liệt thể không biệt định giai đoạn bệnh thuyên giảm, hạn chế khả năng nhận thức và hạn chế khả năng điều khiển hành vi nên hành vi của bị cáo Nguyễn Văn T đã phạm tội “Cố ý gây thương tích” được quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.

. Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn T thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ, hành vi đó đã gây mất trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Do đó, việc đưa bị cáo ra xử lý trước pháp luật là cần thiết.

. Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã bồi thường thiệt hại cho người bị hại, bị cáo là người có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi; bị cáo bị khuyết tật nặng đang được hưởng trợ cấp xã hội, người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b,p, q, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Bị cáo là người có nhân thân tốt, sau khi phạm tội đã thực sự thành khẩn, có nơi cư trú rõ ràng, ổn định nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà tạo điều kiện cho bị cáo được hưởng án treo. Giao bị cáo cho chính quyền địa phương và gia đình giám sát, giáo dục bị cáo.

. Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại – anh Đinh Văn Q đã nhận số tiền bồi thường là 25.000.000 đồng và không yêu cầu bị cáo bồi thường khoản tiền nào khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.

. Về vật chứng:

Đối với ống kim loại hình tròn dài 64cm, đường kính 2,6cm là của bà Đỗ Thị Bình. Đây là công cụ phạm tội cần tịch thu tiêu hủy.

. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn T là hộ nghèo nên được miễn tiên án phí hình sự sơ thẩm.

. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

2. Về hình phạt: Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, p,q, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 (năm) năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (06-6-2023).

Trong thời gian thử thách giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã V, huyện Y, tỉnh Yên Bái giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp Nguyễn Văn T thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách Nguyễn Văn T cố ý vi phạm nghĩa vụ theo Luật thi hành án hình sự từ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án cho hưởng án treo.

3. Về vật chứng: Căn cứ khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Xử lý vật chứng tại biên bản giao nhận vật chứng giữa Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Bình và Công an huyện Yên Bình ngày 14-4-2023 như sau:

Tịch thu tiêu hủy: 01 ống kim loại hình tròn.

4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14: Bị cáo Nguyễn Văn T được miễn 200.000 đồng tiền án phí HSST.

5. Về quyền kháng cáo:

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Người bị hại được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo phần có liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6 , 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện tại điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ