- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Tự Khá cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sun…"
- Tòa quyết gì? Áp dụng : Điểm c khoản 3 Điều 134, điểm b, e, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, các Điều 54, 47, 65 của Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, các Điều 106, 331, 333, 328 của Bộ luật tố tụng hình sự; các Điều 584, 585, 586, 589 của Bộ luật Dân sự năm 2015; điểm a khoản 1 …
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ỨNG HÒA - TP HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 09/2023/HS-ST Ngày 22/3/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ỨNG HÒA - TP HÀ NỘI
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà : Ông Nguyễn Thành Trung
Các Hội thẩm nhân dân :
Bà Nguyễn Thị Vân, cán bộ hưu trí huyện Ứng Hòa;
Ông Đặng Viết Côi, cán bộ hưu trí huyện Ứng Hòa
- Thư ký phiên toà : Bà Nguyễn Diệu Tuyết – Thẩm tra viên Toà án nhân dân huyện Ứng Hoà
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ứng Hoà tham gia phiên toà : Ông Nguyễn Tuấn Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 3 năm 2023 tại Trụ sở toà án nhân dân huyện Ứng Hòa, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số : 10/2023/TLST-HS ngày 22 tháng 02 năm 2023 đối với bị cáo: PHẠM TỰ K, sinh năm 1978; nơi sinh và cư trú : Thôn Lương Xá, xã Liên Bạt, huyện Ứng Hòa, thành phố Hà Nội; quốc tịch : Việt Nam; dân tộc : Kinh; tôn giáo : Không; trình độ học vấn : 12/12; nghề nghiệp : Lao động tự do; con ông : Phạm Tự Khởi, sinh năm 1950; con bà : Nguyễn Thị Nhung (Đã chết); vợ : Nguyễn Thị Liên, sinh năm 1984; con : Có 04 con (Con lớn sinh năm 2011, con nhỏ sinh năm 2020); tiền án, tiền sự : Không; Bị cáo bị tạm giam theo Lệnh bắt bị can để tạm giam số 12 ngày 06/12/2022 của Cơ quan CSĐT - Công an huyện Ứng Hòa. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 - Công an thành phố Hà Nội ; có mặt tại phiên tòa.
1. Người bị hại : Anh Tạ Đức Tiến, sinh năm 1971; trú tại : Thôn Vũ Ngoại, xã Liên Bạt, huyện Ứng Hòa, thành phố Hà Nội, có mặt.
2. Người làm chứng:
2.1 Ông Nguyễn Đình Vân, sinh năm 1965; trú tại : Thôn Vũ Ngoại, xã Liên Bạt, huyện Ứng Hòa, thành phố Hà Nội, vắng mặt;
2.2 Chị Tạ Thị Oanh, sinh năm 1969; trú tại : Thôn Vũ Ngoại, xã Liên Bạt, huyện Ứng Hòa, thành phố Hà Nội, vắng mặt;
2.3 Anh Ngô Văn Thuận, sinh năm 1966; trú tại : Thôn Vũ Ngoại, xã Liên Bạt, huyện Ứng Hòa, thành phố Hà Nội, vắng mặt;
2.4 Chị Tạ Thị Yến, sinh năm 1964; trú tại : Thôn Bặt Ngõ, xã Liên Bạt, huyện Ứng Hòa, thành phố Hà Nội, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN :
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau : Khoảng 07 giờ 10 phút ngày 20/9/2022, Phạm Tự K đến trang trại của nhà ông Nguyễn Đình Vân tại cánh đồng Nẩy, thôn Vũ Ngoại, xã Liên Bạt, huyện Ứng Hòa, thành phố Hà Nội chơi. Khi K và ông Vân đang ngồi uống nước thì ông Vân nhận được điện thoại của Tạ Đức Tiến ở cùng thôn. Ông Vân bật loa ngoài để nghe điện thoại, Tiến hỏi ông Vân: “Anh Vân ơi, có thằng K Khởi ở đấy không?”. Nghe thấy Tiến gọi tên bố mình K liền nói: “Thằng Tiến Chinh bố tao làm gì mà mày gọi tên bố tao lên”, Tiến tiếp tục nói: “Mày cứ ngồi đấy tao lên”. Nghe vậy ông Vân liền tắt máy rồi bảo K đi về nhưng K không về, tiếp tục ngồi uống nước. Do bức xúc trong câu nói với K và do mâu thuẫn trước đây K thường thả trâu, bò nhưng không trông để trâu, bò phá cây cối trong trang trại nhà Tiến nên Tiến lấy 01 thanh kiếm bằng sắt và 01 côn nhị khúc bằng gỗ rồi đi đến trang trại của ông Vân tìm đánh K. Đến nơi thì thấy ông Vân và K đang ngồi uống nước, Tiến cầm kiếm tay trái đi đến chỗ K đang ngồi cãi chửi nhau với K, ông Vân can ngăn hai bên nhưng không được. Tiến cầm kiếm chém 01 phát trúng vào gối trái của K. Sau đó, K cầm 01 viên gạch đỏ ở sát chân ghế nhựa đang ngồi ném về phía Tiến nhưng không trúng. Tiến tiếp tục xông vào dùng kiếm chém 01 phát trúng vào cánh tay trái của K. Thấy vậy, ông Vân liền can ngăn, K bỏ chạy vào trong nhà ông Vân đóng cửa lại, Tiến và K tiếp tục chửi nhau. Lúc này, Tiến lấy côn nhị khúc ra, một tay cầm kiếm, một tay cầm côn đứng ngoài, ông Vân can ngăn Tiến nhưng không được. K mở cửa ra ngoài thì Tiến dùng côn vụt K nhưng không trúng. K liền chạy vào trong nhà ông Vân lấy 01 thanh tuýp sắt ở góc buồng chạy ra ngoài, Tiến thấy vậy bỏ chạy ra gần đường đi, K đuổi theo. Khi đến gần Tiến thì K cầm tuýp sắt vụt nhiều phát về phía mặt Tiến. Tiến dơ hai tay lên đỡ thì bị K vụt tuýp sắt trúng vào tay, miệng. Tiến dùng côn vụt lại K nhưng không trúng. K dùng chân đạp 01 phát trúng ngực Tiến làm Tiến bị ngã xuống đất. Tiến đứng dậy xông vào tóm một đầu tuýp sắt giằng co với K. Quá trình giằng co, K tóm tóc và dùng tay phải đấm 01 phát trúng mặt Tiến. Thấy vậy, ông Vân vào căn ngăn Tiến, K ra. Lúc sau có chị Tạ Thị Oanh, sinh năm 1969 và chồng chị Oanh là anh Ngô Văn Thuận, sinh năm 1966 ở cùng thôn đến tiếp tục can ngăn và đưa Tiến đi cấp cứu tại Bệnh viện Đại học y Hà Nội.
Hậu quả:
- Tạ Đức Tiến bị 01 vết thương vùng môi trên, kích thước (2x1)cm, bờ nham nhở, đáy xuyên sâu vào khoang miệng, chảy máu; Xây xát thành ngực trái, sừng nề bầm tím bàn tay hai bên; Gãy kín đốt 1 ngón 5 tay trái, gãy kín đốt 1 ngón 3 tay phải; Gãy móm huyệt răng các răng 21, 23 lan vào một phần xương khẩu cái cứng, gãy móm huyệt răng hàm từ 43 đến 32, phù nề phần mềm lân cận, đi Km điều trị tại Bệnh viện Đại học y Hà Nội từ ngày 20/9/2022 đến ngày 26/9/2022 thì ra viện.
- Phạm Tự K bị 01 vết xước da ở khu vực đầu gối bên trái dài 07cm, 01 vết xước da ở bả vai trái dài 06cm, 01 vết xước mạn sườn bên trái dài 02cm, đi Km điều trị tại Bệnh viện đa khoa Vân Đình từ ngày 23/9/2022 đến ngày 29/9/2022 thì ra viện.
Vật chứng thu giữ: 01 ống tuýp sắt dài 1,22m, đường kính 2,7cm; 01 kiếm sắt dài 84cm, phần cán kiếm dài 13cm bằng nhựa, phần lưỡi kiếm dài 71cm, đầu nhọn, bản rộng nhất 1,2cm, hoen rỉ; 01 côn nhị khúc dài 75cm, làm bằng gỗ được nối với nhau bằng dây xích dài 15cm, mỗi khúc côn dài 30cm, đường kính 3cm; 01 viên gạch đỏ kích thước dài 21cm, rộng 9cm, dày 5cm, đã bị vỡ một phần. Phần bị vỡ kích thước (15x9x3,5)cm.
Ngày 01/11/2022, Cơ quan điều tra ra Quyết định Trưng cầu giám định pháp y thương tích số 203 đối với thương tích của Phạm Tự K. Ngày 11/11/2022, Viện khoa học hình sự - Bộ công an ra Bản kết luận giám định thương tích số 7373, kết luận:
“V. KẾT LUẬN.
1. Kết quả chính
Căn cứ kết quả nghiên cứu hồ sơ, Km giám định, Km chuyên khoa và các xét nghiệm, xác định anh Phạm Tự K bị đa chấn thương phần mềm, đã điều trị. Hiện tại:
- Sẹo mặt ngoài 1/3 trên cánh tay trái kích thước 4x0,2cm, không ảnh hưởng đến chức năng.
- Vùng cổ - gáy, vùng gối trái không sưng nề, không ảnh hưởng chức năng.
2. Kết luận
2.1. Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể
Đối chiếu Bảng 1 - Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích ban hành kèm theo Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y Tế, áp dụng Nguyên tắc 1 và Mục I.1, Chương 8, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể đối với sẹo cánh tay trái kích trước nhỏ của anh Phạm Tự K tại thời điểm giám định là: 01% (một phần trăm).
2.2. Cơ chế hình thành thương tích
Tổn thương cánh tay trái của anh Phạm Tự K do vật có diện tiếp xúc hẹp gây nên.”
Ngày 01/11/2022, Cơ quan điều tra ra Quyết định Trưng cầu giám định số 204 đối với thương tích của Tạ Đức Tiến. Ngày 14/11/2022, Viện khoa học hình sự - Bộ công an ra Bản kết luận giám định thương tích số 7375, kết luận:
“V. KẾT LUẬN
1. Kết quả chính.
Căn cứ kết quả nghiên cứu hồ sơ, Km giám định, Km chuyên khoa và các xét nghiệm, xác định bị đa chấn thương, đã đươc điều trị. Hiện tại:
- Sẹo phía ngoài môi trên bên trái kích thước 3x(0,1-0,2)cm.
- Sẹo vùng ngực trái kích thước 3x0,4cm, không ảnh hưởng chức năng.
- Sẹo phẫu thuật mặt mu gốc bàn - đốt 1 ngón III tay phải kích thước 6,3x0,1cm.
- Sẹo phẫu thuật mặt mu gốc bàn - đốt 1 ngón V tay trái kích thước 6x0,1cm.
- Mất răng R2.3; R3.1; R3.2; R4.1; R4.2; R4.3, R4.4. Gãy thân răng số 3 hàm dưới bên trái.
- Gãy xương hàm trên, không ảnh hưởng chức năng.
- Gãy cung tiếp gò má phải hai điểm gãy, không ảnh hưởng chức năng.
- Xương hàm dưới không thấy bất thường.
- Vỡ ổ chân răng các răng từ R2.1 đến R2.3 và R3.2 đến R4.3.
- Gãy đầu gần đốt 1 ngón III bàn tay phải, còn phương tiện kết xương.
- Gãy đầu gần đốt 1 ngón V bàn tay trái, còn phương tiện kết xương.
2. Kết luận
2.1. Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể
Đối chiếu Bảng 1 – Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích ban hành kèm theo Thông tư số 22/2019 /TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y tế, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể cho từng thương tích như sau:
- Sẹo phía ngoài môi bên trái kích thước nhỏ: 03% ( áp dụng Nguyên tắc 1,2 và Mục I.1, Chương 8).
- Sẹo vùng ngực trái, kích thước nhỏ: 01% ( áp dụng Nguyên tắc 1 và Mục I.1, Chương 8).
- Sẹo phẫu thuật mặt mu gốc bàn – đốt 1 ngón III tay phải kích thước trung bình: 02% ( áp dụng Nguyên tắc 1 và Mục I.1, Chương 8).
- Sẹo phẫu thuật mặt mu gốc bàn – đốt 1 ngón V tay trái kích thước trung bình: 02% ( áp dụng Nguyên tắc 1 và Mục I.1, Chương 8).
- Mất răng R2.3; R3.1; R3.2; R4.1; R4.2; R4.3; Gãy thân răng R3.3: mỗi răng 02% (áp dụng Mục II.1.2.1, Chương 11).
- Mất răng R4.4: 1,5% (áp dụng Mục II.1.2.2, Chương 11).
- Gãy xương hàm trên, không ảnh hưởng đến chức năng: 08% (áp dụng Mục I.2, Chương 11).
- Gãy cung tiếp gò tiếp má phải hai điểm gãy, không ảnh hưởng đến chức năng: 09% (áp dụng Mục I.2, Chương 11).
- Vỡ ổ chân răng các răng từ R2.1 đến R2.3 và R3.2 đến R4.3: 03% (áp dụng Mục I.1, Chương 11).
- Gãy đốt 1 ngón III bàn tay phải: 02% (áp dụng Mục VI.7.2, Chương 7).
- Gãy đốt 1 ngón V bàn tay trái: 02% (áp dụng Mục VI.7.2, Chương 7).
Áp dụng phương pháp xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể quy định tại thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y Tế, xác định tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của anh Tạ Đức Tiến tại thời điểm giám định là: 38% (ba mươi tám phần trăm).
2.2. Cơ chế hình thành thương tích
Các tổn thương của anh Tạ Đức Tiến do vật tày gây ra.”
Ngày 13/12/2022, Cơ quan CSĐT - Công an huyện Ứng Hòa đã ra Quyết định trưng cầu giám định pháp y sinh học số 236 đối với vật chứng thu giữ trên.
Ngày 17/01/2023, Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội ra Bản kết luận giám định số 451, kết luận:
“- Trên ống tuýp sắt dài 1,22m, đường kính 2,7cm có dính máu người, có kiểu gen trùng với kiểu gen của Tạ Đức Tiến.
- Không phát hiện thấy máu trên kiếm sắt dài 84cm, phần cán kiếm dài 13cm bằng nhựa, phần lưỡi kiếm dài 71cm, đầu nhọn, bản rộng nhất 1,2cm.
- Trên côn nhị khúc dài 75cm, làm bằng gỗ được nối với nhau bằng dây xích dài 15cm, mỗi khúc côn dài 30cm, đường kính 03cm có dính máu người, có kiểu gen trúng với kiểu gen của Tạ Đức Tiến.
- Không phát hiện thấy máu trên viên gạch đỏ kích thước dài 21cm, rộng 09cm, dày 05cm, đã bị vỡ một phần. Phần bị vỡ kích thước (15x9x3,5)cm.
- Lưu kiểu gen của Phạm Tự K tại phòng PC09-CATP Hà Nội.
- Lưu kiểu gen của Tạ Đức Tiến tại phòng PC09-CATP Hà Nội.”
Với hành vi nêu trên, tại bản Cáo trạng số : 10/CT - VKS ngày 21/02/2023 Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Ứng Hoà truy đã truy tố bị Phạm Tự K về tội : “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà :
- Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên;
- Người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt, cho bị cáo được cải tạo tại địa phương.
- Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố cả về tội danh nội dung cũng như điều luật, khoản áp dụng như trong bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điều luật và mức hình phạt đối với bị cáo như sau :
Về tội danh và mức hình phạt : Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, e, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 54; Điều 65 của Bộ luật hình sự :Tuyên bố bị cáo Phạm Tự K phạm tội : Cố ý gây thương tích. Xử phạt bị cáo Phạm Tự K 36 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 năm tính từ ngày tuyên án.
Về trách nhiệm dân sự : Bị cáo đã bồi thường đầy đủ cho người bị hại, người bị hại không có yêu cầu gì nên không giải quyết trong vụ án.
Về xử lý vật chứng : Áp dụng Điều 41 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy : 01 ống tuýp sắt dài 1,22m, đường kính 2,7cm; 01 kiếm sắt dài 84cm, phần cán kiếm dài 13cm bằng nhựa, phần lưỡi kiếm dài 71cm, đầu nhọn, bản rộng nhất 1,2cm, hoen rỉ; 01 côn nhị khúc dài 75cm, làm bằng gỗ được nối với nhau bằng dây xích dài 15cm, mỗi khúc côn dài 30cm, đường kính 3cm; 01 viên gạch đỏ kích thước dài 21cm, rộng 9cm, dày 5cm, đã bị vỡ một phần. Phần bị vỡ kích thước (15x9x3,5)cm.
Về án phí và quyền Kng cáo : Căn cứ các Điều 135, 136, 331, 333 của Bộ luật hình sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 : Buộc bị cáo Phạm Tự K phải chịu 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm. Bị cáo; người bị hại được quyền Kng cáo theo quy định pháp luật.
Căn cứ vào những chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, Kch quan, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo, người bị hại, những người làm chứng, người tham gia tố tụng Kc .
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN :
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau :
Về tố tụng : Hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, kiểm sát viên huyện Ứng Hòa đều đã thực hiện đầy đủ, đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
Về nội dung : Tại cơ quan điều tra cũng như phiên tòa bị cáo nhận tội như nội dung bản cáo trạng mà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ứng Hòa đã nêu; lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng; vật chứng thu giữ được, phù hợp với những tài liệu Kc được cơ quan Cảnh sát điều tra thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận : Ngày 20/9/2022, do mâu thuẫn từ trước, giữa Phạm Tự K và Tạ Đức Tiến xảy ra xô sát, đánh nhau. Phạm Tự K đã dùng hung khí là 01 tuýp sắt vụt nhiều phát trúng tay, miệng của Tiến; dùng chân đạp vào ngực, dùng tay đấm vào mặt của Tạ Đức Tiến. Hậu quả: Tạ Đức Tiến bị thương tích, tổn thương cơ thể là 38% .
Về tội danh: Hành hành vi đánh người gây thương tích của bị cáo nêu trên đã vi phạm điểm c khoản 3 Điều 134 của Bộ luật hình sự, do đó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Ứng Hoà truy tố bị cáo về tội danh, điều khoản luật áp dụng như nêu trong bản Cáo trạng là có căn cứ đúng pháp luật.
Xét về tính chất : Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm đã xâm phạm đến sức khỏe của người Kc được pháp luật bảo vệ, làm mất trật tự trị an tại địa phươn. Vì vậy cần phải áp dụng mức hình phạt phù hợp với tính chất và mức độ hành vi phạm tội, đủ để cải tạo bị cáo và răn đe phòng người tội phạm.Tuy nhiên Hội đồng xét xử cũng xem xét đến các tình tiết : Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã tự nguyện bồi thường khắc phục toàn bộ hậu của cho người bị hại, người bị hại có đơn xin cho bị cáo được cải tạo tại địa phương, hơn nữa người bị hại cũng có lỗi một phần đã đánh gây thương tích cho bị cáo trước nên bị cáo đã bi kích động về mặt tinh thần do hành vi trái pháp luật của nạn nhân gây ra là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm b, e, s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự mà Hội đồng xét xử xem xét khi quyết định hình phạt. Xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, không có tình tiết tăng nặng, bị cáo có nhân thân tốt, có nơi thường trú cụ thể rõ ràng nên không cần cách ly ra mà áp dụng Điều 54 xử dưới mức thấp nhất của khung hình phạt, áp dụng Điều 65 cho cải tạo ngoài rã hội trả tự do cho bị cáo ngay sau khi kết thúc phiên tòa nếu bị cáo không bị giam giữ về tội phạm Kc cũng đủ tác dụng giáo dục và đảm bảo việc răn đe phòng ngừa, cũng thể hiện được sự nhân văn cũng như nguyên tắc khoan hồng của chính sách pháp luật hình sự được quy định tại Điều 3 của Bộ luật hình sự.
Đối với Tạ Đức Tiến : Có hành vi dùng kiếm chém trúng vào tay trái, đầu gối trái của Phạm Tự K, làm K bị thương tích, tổn thương sức khỏe là 01% (Một phần trăm). Tuy nhiên, Phạm Tự K có đơn xin rút đơn đề nghị và xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho Tạ Đức Tiến với lý do hai bên đã hòa giải. Việc các bên tự hòa giải và rút đơn là hoàn toàn tự nguyện, không bị ai ép buộc, do vậy, Cơ quan CSĐT - Công an huyện Ứng Hòa không có căn cứ xử lý hình sự đối với Tạ Đức Tiến, về tội: “Cố ý gây thương tích”, theo quy định tại Điều 134 Bộ luật hình sự. Công an huyện Ứng Hòa đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Tạ Đức Tiến theo quy định pháp luật là có căn cứ.
Về bồi thường dân sự: Gia đình Phạm Tự K đã bồi thường cho Tạ Đức Tiến số tiền 220.000.000 đồng, Tiến đã nhận đủ số tiền trên và không yêu cầu ai phải bồi thường gì thêm nên không giải quyết trong vụ án.
Về xử lý vật chứng : Áp dụng Điều 41 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy vật chứng của cụ án 01 ống tuýp sắt dài 1,22m, đường kính 2,7cm; 01 kiếm sắt dài 84cm, phần cán kiếm dài 13cm bằng nhựa, phần lưỡi kiếm dài 71cm, đầu nhọn, bản rộng nhất 1,2cm, hoen rỉ; 01 côn nhị khúc dài 75cm, làm bằng gỗ được nối với nhau bằng dây xích dài 15cm, mỗi khúc côn dài 30cm, đường kính 3cm; 01 viên gạch đỏ kích thước dài 21cm, rộng 9cm, dày 5cm, đã bị vỡ một phần. Phần bị vỡ kích thước (15x9x3,5)cm.
Về án phí, quyền Kng cáo : Theo Điều 135;136; 331; 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phi và lệ phi ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội : Bị cáo phải chịu 200.000đồng án phí Hình sự sơ thẩm; bị cáo, người bị hại được quyền Kng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH :
Áp dụng : Điểm c khoản 3 Điều 134, điểm b, e, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, các Điều 54, 47, 65 của Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, các Điều 106, 331, 333, 328 của Bộ luật tố tụng hình sự; các Điều 584, 585, 586, 589 của Bộ luật Dân sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
1. Tuyên bố bị cáo : Phạm Tự K phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
2. Về hình phạt : Xử phạt Phạm Tự K 36 (Ba mươi sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 (Năm) năm, kể từ ngày tuyên án (Ngày 22/3/2023).
3. Trả tự do cho bị cáo Phạm Tự K ngay sau khi kết thúc phiên toà nếu không bị tạm giữ, tạm giam về tội phạm Kc.
Giao bị cáo Phạm Tự K cho Uỷ ban nhân dân xã Liên Bặt, huyện Ứng Hòa, thành phố Hà Nội cùng gia đình bị cáo giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật thi hành án hình sự.Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
4. Trách nhiệm dân sự : Xác nhận anh Tạ Đức Tiến đã nhận số tiền bồi thường 220.000.000đồng (Hai trăm hai mươi triệu đồng) từ bị cáo và không có yêu cầu gì Kc.
5. Về xử lý vật chứng : Tịch thu tiêu hủy : 01 ống tuýp sắt dài 1,22m, đường kính 2,7cm; 01 kiếm sắt dài 84cm, phần cán kiếm dài 13cm bằng nhựa, phần lưỡi kiếm dài 71cm, đầu nhọn, bản rộng nhất 1,2cm, hoen rỉ; 01 côn nhị khúc dài 75cm, làm bằng gỗ được nối với nhau bằng dây xích dài 15cm, mỗi khúc côn dài 30cm, đường kính 3cm; 01 viên gạch đỏ kích thước dài 21cm, rộng 9cm, dày 5cm, đã bị vỡ một phần. Phần bị vỡ kích thước (15x9x3,5)cm (Tình trạng, đặc điểm của các vật chứng theo biên bản giao nhận ngày 21/3/2023 giữa cơ quan Công an đến Chi cục thi hành án dân sự huyện Ứng Hòa quản lý).
6. Về án phí : Buộc bị cáo Phạm Tự K phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn) đồng án phí Hình sự sơ thẩm.
5.Về quyền Kng cáo : Bị cáo; người bị hại được quyền Kng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận : - TANDTP Hà Nội; - VKSND; Công an huyện Ứng Hòa; - Chi cục T.H.ADS huyện Ứng Hoà; - Bị cáo;người bị hại; - Niêm yết tại UBND xã Liên Bạt, Ứng Hòa,Hà Nội; - Lưu : Hồ sơ vụ án; VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Nguyễn Thành Trung |