- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Nguyễn Thanh L phạm tội “Cướp giật tài sản” - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 201…"
- Tòa quyết gì? 1 Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh L phạm tội “Cướp giật tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự - Tịch thu; Điều 171 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM BÌNH TỈNH VĨNH LONG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 09/2023/HS-ST Ngày 07 – 3 – 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM BÌNH, TỈNH VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Thanh Thảo
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trịnh Thanh Sơn - Phó Trưởng Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Tam Bình.
2. Ông Phan Kiên Nhẫn - Cán bộ hưu trí huyện Tam Bình.
- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Kim Huyền – Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Ông Dương Hoàng Anh – Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 3 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tam Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 06/2023/TLST-HS ngày 17 tháng 01 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2023/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 02 năm 2023 đối với bị cáo:
Nguyễn Thanh L, sinh năm 1989 tại tỉnh Vĩnh Long; nơi cư trú: ấp P, xã S, huyện T, tỉnh Vĩnh Long; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn L1 (chết) và bà Đỗ Thị Tuyết H (chết), vợ Lưu Thị Cẩm T và 01 người con sinh năm 2012.
Tiền án: Không.
Tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 25/9/2022 đến nay và có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại:
1/ Phan Thị Xuân H1, sinh ngày 27/5/2008; nơi cư trú: ấp P, xã S, huyện T, tỉnh Vĩnh Long (vắng mặt).
2/ Nguyễn Ngọc Trúc L2, sinh ngày 25/02/2011; nơi cư trú: ấp P, xã P, huyện T, tỉnh Vĩnh Long (vắng mặt).
- Người đại diện hợp pháp của bị hại Phan Thị Xuân H1:
1/ Ông Phan Văn Đ, sinh năm 1982 (vắng mặt)
2/ Bà Nguyễn Thị Xuân Á, sinh năm 1983 (vắng mặt)
Cùng nơi cư trú: ấp P, xã S, huyện T, tỉnh Vĩnh Long.
- Người đại diện hợp pháp của bị hại Nguyễn Ngọc Trúc L2:
1/ Ông Nguyễn Tấn Vĩnh T1, sinh năm 1980 (vắng mặt)
2/ Bà Phan Thị Thu T2, sinh năm 1984 (vắng mặt)
Cùng nơi cư trú: ấp P, xã P, huyện T, tỉnh Vĩnh Long.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
1/ Ông Nguyễn Minh L3, sinh năm 1983; nơi cư trú: ấp P, xã S, huyện T, tỉnh Vĩnh Long (có mặt).
2/ Ông Nguyễn Đăng T3, sinh năm 1952; nơi cư trú: 6 Khóm B, Phường C, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 22/9/2022, Nguyễn Thanh L nảy sinh ý định tìm tài sản để giật bán lấy tiền mua ma túy sử dụng và tiêu xài cá nhân nên L điều khiển xe mô tô loại Wave màu xanh, gắn biển số kiểm soát 54K6-0081 chạy theo đường Tỉnh lộ 905 từ hướng xã S đến xã L, huyện T để tìm giật tài sản, đi được 01 đoạn thì chưa phát hiện người đi đường có tài sản để giật nên L tiếp tục điều khiển xe quay ngược về hướng đầu lộ 16. Khi đến đoạn thuộc ấp P, xã L, huyện T thì L thấy em Phan Thị Xuân H1 đang điều khiển xe đạp chạy ngược chiều phía trước trên giỏ xe đạp có để ba lô màu vàng nên L nảy sinh ý định giật ba lô của em H1. Khi em H1 điều khiển xe đạp qua xe của L thì L điều khiển xe quay ngược trở lại áp sát vào xe đạp của em H1. L dùng tay phải giật lấy ba lô của em H1 và nhanh chóng tẩu thoát về hướng Tỉnh lộ 909 về xã P, huyện T. Khi đến đoạn đường vắng, L mở ba lô ra lấy 01 điện thoại di động hiệu Samsung A10 màu xanh đen và số tiền 78.000 đồng cất giữ, còn 01 cuốn sách toán lớp 9, 04 quyển tập trắng loại 96 trang và 01 máy tính Casio fx 580 để trong ba lô thì L ném bỏ mất. Sau đó, L điều khiển xe đến chợ P thuộc huyện L, tỉnh Vĩnh Long ghé vào 01 tiệm điện thoại (không rõ địa chỉ cụ thể) bán điện thoại được số tiền 700.000 đồng tiêu xài cá nhân.
Đến khoảng 15 giờ 15 phút cùng ngày 22/9/2022 em H1 trình báo vụ việc với Cơ quan Công an. Qua trích xuất camera và làm việc thì Nguyễn Thanh L đã thừa nhận hành vi Cướp giật tài sản của em H1.
Ngày 25/9/2022 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T ra quyết định khởi tố vụ án hình sự, quyết định khởi tố bị can và ra Lệnh bắt bị can để tạm giam đối với Nguyễn Thanh L, về tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 33/KL.ĐGTS ngày 20/10/2022 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện T kết luận:
- 01 cặp học sinh (dạng ba lô) mua khoảng 01 năm có giá bình quân là 100.000 đồng.
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung loại A10 mua khoảng 01 năm có giá bình quân là 1.400.000 đồng.
- 01 cuốn sách toán lớp 9 có giá là 30.000 đồng.
- 04 quyển tập trắng loại 96 trang có giá là 16.000 đồng.
- 01 máy tính Casio fx 580 mua khoảng 01 năm có giá là 300.000 đồng.
Tổng giá trị tài sản định giá: 1.846.000 đồng.
Trong quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T còn xác định được trước đó bị cáo còn thực hiện 01 vụ Cướp giật tài sản khác trên địa bàn huyện T. Cụ thể:
Khoảng 06 giờ 10 phút ngày 17/9/2022, Nguyễn Thanh L điều khiển xe mô tô loại Wave màu xanh, gắn biển số kiểm soát 64B1-686.02 chạy theo tuyến Quốc lộ A hướng từ thị xã B về tỉnh Vĩnh Long để giật tài sản. Khi đến dốc cầu B thuộc ấp P, xã S, huyện T, tỉnh Vĩnh Long thì L thấy em Nguyễn Ngọc Trúc L2 đang điều khiển xe đạp chạy cùng chiều phía trước, trên giỏ xe đạp có để ba lô nên L nảy sinh ý định giật ba lô của em L2. L điều khiển xe áp sát vào xe của em L2 và dùng tay phải giật lấy ba lô của em L2 rồi nhanh chóng tẩu thoát về hướng tỉnh Vĩnh Long. Tài sản bên trong ba lô gồm có: 01 điện thoại di động hiệu S1 A13, 01 bóp nữ (ví) bên trong có 67.000 đồng, 01 cuốn sách tiếng anh lớp 6, 01 cuốn giáo dục thể chất lớp 6, 01 cuốn trải nghiệm hướng nghiệp lớp 6, 04 quyển tập trắng loại 96 trang, 02 chìa khóa bằng kim loại. L lấy điện thoại và số tiền 67.000 đồng cất giữ, còn ba lô và sách vở thì L ném bỏ mất. Sau đó, L điều khiển xe đến thị xã B ghé vào 01 tiệm điện thoại (không rõ địa chỉ cụ thể) bán điện thoại được số tiền 400.000 đồng tiêu xài cá nhân.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 32/KL.ĐGTS ngày 20/10/2022 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện T kết luận:
- 01 cặp học sinh (dạng ba lô) mua khoảng 01 năm có giá bình quân là 100.000 đồng.
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung loại A13 mua khoảng 01 năm có giá bình quân là 2.400.000 đồng.
- 01 bóp nữ (ví) mua khoảng 01 năm có giá bình quân thị trường 50.000 đồng.
- 01 cuốn sách tiếng anh lớp 6 có giá là 38.000 đồng.
- 01 cuốn giáo dục thể chất lớp 6 có giá 20.000 đồng.
- 01 cuốn trải nghiệm hướng nghiệp lớp 6 có giá 16.000 đồng.
- 04 quyển tập trắng loại 96 trang có giá là 16.000 đồng.
- 02 chìa khóa bằng kim loại không có giá trị.
Tổng giá trị tài sản định giá: 2.640.000 đồng.
Ngày 01/12/2022 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T ra quyết định bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự, về tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự, xảy ra ngày 17/9/2022 tại ấp P, xã S, huyện T, tỉnh Vĩnh Long.
Việc thu giữ tài liệu, đồ vật, xử lý vật chứng: 01 nón bảo hiểm, loại nón sơn màu xanh đen, có phần mõ nón màu đen; 01 nón kết bằng vải màu trắng có thêu hình lá cờ và dòng chữ USA màu cam, phần mõ nón kết màu cam; 01 áo khoác nam bằng vải màu xám đen; 01 đôi dép lào bằng mũ màu cam; 01 quần sọt bằng vải màu xanh; 01 xe mô tô nhãn loại Wave màu xanh; 02 biển số xe mô tô (gồm 64B1-686.02 và 54K6-0081) và số tiền 470.000 đồng của bị cáo Nguyễn Thanh L.
Hiện Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đang quản lý.
Đối với: 02 điện thoại di động (gồm 01 điện thoại di động hiệu Samsung A10 màu xanh đen của em Phan Thị Xuân H1, 01 điện thoại di động hiệu Samsung A13 của em Nguyễn Ngọc Trúc L2) bị cáo Nguyễn Thanh L đã bán cho người khác (không rõ địa chỉ cụ thể) và 02 ba lô của em Phan Thị Xuân H1, em Nguyễn Ngọc Trúc L2, bị cáo Nguyễn Thanh L đã ném bỏ mất nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T không thu giữ được.
Phần dân sự:
- Ông Phan Văn Đ là đại diện hợp pháp của em Phan Thị Xuân H1 đã nhận số tiền 1.846.000 đồng do anh Nguyễn Minh L3 là anh ruột của bị cáo Nguyễn Thanh L bồi thường thay cho bị cáo. Ông Đ không có yêu cầu bồi thường gì thêm.
- Ông Nguyễn Tấn Vĩnh T1 là đại diện hợp pháp của em Nguyễn Ngọc Trúc L2 đã nhận số tiền 2.640.000 đồng do anh Nguyễn Minh L3 là anh ruột của bị cáo Nguyễn Thanh L bồi thường thay cho bị cáo. Ông T1 không có yêu cầu bồi thường gì thêm.
- Anh Nguyễn Minh L3 không có yêu cầu bị cáo Nguyễn Thanh L trả lại số tiền mà anh L3 đã bồi thường thay cho bị cáo.
Tại Cáo trạng số: 08/CT-VKSTB ngày 16/01/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Bình đã truy tố bị cáo Nguyễn Thanh L về tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại điểm d, g khoản 2 Điều 171 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Nguyễn Thanh L thừa nhận cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Bình truy tố bị cáo là đúng hành vi, không oan.
Kiểm sát viên thực hành quyền công tố vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Nguyễn Thanh L về tội “Cướp giật tài sản”. Sau khi phân tích nguyên nhân, tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự áp dụng cho bị cáo, Kiểm sát viên đề nghị:
Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh L phạm tội “Cướp giật tài sản”.
Áp dụng điểm d, g khoản 2 Điều 171; Điều 38; điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh L mức án 04 (Bốn) năm 06 (Sáu) tháng đến 05 (Năm) năm tù.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu gì thêm nên không xem xét giải quyết. Anh Nguyễn Minh L3 không có yêu cầu bị cáo Nguyễn Thanh L trả lại số tiền mà anh L3 đã bồi thường thay cho bị cáo nên không xem xét giải quyết.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu, tiêu hủy: 01 nón bảo hiểm, loại nón sơn màu xanh đen, có phần mõ nón màu đen, 01 nón kết bằng vải màu trắng có thêu hình lá cờ và dòng chữ USA màu cam, phần mõ nón kết màu cam, 01 áo khoát nam bằng vải màu xám đen, 01 đôi dép lào bằng mũ màu cam, 01 quần sọt bằng vải màu xanh.
Trả cho bị cáo số tiền 470.000 đồng.
Giao Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T quản lý 01 xe mô tô loại Wave màu xanh, 01 biển số xe 64B1 – 686.02 và 01 biển số xe 54K6 – 0081 tiếp tục điều tra, xử lý theo quy định pháp luật.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về nội dung vụ án:
Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị hại, người làm chứng, biên bản hỏi cung bị can cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên tòa thể hiện: Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 22/9/2022, tại ấp P, xã L, huyện T, tỉnh Vĩnh Long, Nguyễn Thanh L đã có hành vi điều khiển xe mô tô loại Wave màu xanh, gắn biển số kiểm soát 54K6 - 0081 chạy áp sát vào xe đạp của em Phan Thị Xuân H1 giật lấy ba lô để trước giỏ xe đạp của em H1, bên trong ba lô gồm có: 01 điện thoại di động hiệu Samsung A10 màu xanh đen, 01 cuốn sách toán lớp 9, 04 quyển tập trắng loại 96 trang, 01 máy tính Casio fx 580 có tổng giá trị là 1.846.000 đồng và số tiền 78.000 đồng của em H1.
Ngoài ra, vào khoảng 06 giờ 10 phút ngày 17/9/2022, tại ấp P, xã S, huyện T, tỉnh Vĩnh Long, Nguyễn Thanh L đã có hành vi điều khiển xe mô tô loại Wave màu xanh, gắn biển số kiểm soát 64B1 - 686.02 chạy áp sát vào xe đạp của em Nguyễn Ngọc Trúc L2 giật lấy ba lô để trước giỏ xe đạp của em L2, bên trong ba lô gồm có: 01 điện thoại di động hiệu S1 A13, 01 bóp nữ (ví), 01 cuốn sách tiếng anh lớp 6, 01 cuốn giáo dục thể chất lớp 6, 01 cuốn trải nghiệm hướng nghiệp lớp 6, 04 quyển tập trắng loại 96 trang, 02 chìa khóa bằng kim loại có tổng giá trị là 2.640.000 đồng và số tiền 67.000 đồng của em L2.
Hành vi của bị cáo Nguyễn Thanh L đã phạm vào tội “Cướp giật tài sản” được quy định tại điểm d, g khoản 2 Điều 171 của Bộ luật Hình sự như truy tố của Viện kiểm sát là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật và có căn cứ.
Xét hành hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người bị hại được pháp luật hình sự bảo vệ, làm mất trật tự trị an ở địa phương. Bản thân bị cáo có sức khỏe lại không chịu chí thú làm ăn. Bị cáo biết rõ cướp giật tài sản là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo bất chấp thực hiện hành vi phạm tội. Trong vụ án này, bị cáo sử dụng xe mô tô đang lưu thông để cướp giật tài sản làm nguy hiểm đến tính mạng, sức khoẻ của bị hại. Cả hai bị hại đều dưới 16 tuổi. Do đó, cần xử lý bị cáo một mức án nghiêm khắc tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người công dân tốt, có ích cho xã hội và ngăn chặn những trường hợp tương tự có thể xảy ra.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo thực hiện hành vi cướp giật tài sản hai lần nên bị cáo bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: phạm tội 02 lần trở lên theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo tác động gia đình khắc phục xong thiệt hại cho các bị hại; đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại, đại diện hợp pháp của các bị hại không có yêu cầu gì thêm nên không xem xét giải quyết. Anh Nguyễn Minh L3 không có yêu cầu bị cáo Nguyễn Thanh L trả lại số tiền mà anh L3 đã bồi thường thay cho bị cáo nên không xem xét giải quyết.
Về xử lý vật chứng:
- Các vật chứng gồm 01 nón bảo hiểm, loại nón sơn màu xanh đen, có phần mõ nón màu đen, 01 nón kết bằng vải màu trắng có thêu hình lá cờ và dòng chữ USA màu cam, phần mõ nón kết màu cam, 01 áo khoát nam bằng vải màu xám đen, 01 đôi dép lào bằng mũ màu cam, 01 quần sọt bằng vải màu xanh của bị cáo Nguyễn Thanh L. Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo không có yêu cầu nhận lại. Xét thấy các vật chứng này không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu, tiêu hủy theo quy định tại khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Trả cho bị cáo số tiền 470.000 đồng theo Biên lai thu tiền số No 0004743 ngày 07/02/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tam Bình.
- Giao 01 xe mô tô loại Wave màu xanh, 01 biển số xe 64B1 – 686.02 và 01 biển số xe 54K6 – 0081 cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T tiếp tục điều tra, làm rõ và xử lý theo quy định pháp luật.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo L phải nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm d, g khoản 2 Điều 171; Điều 38; điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
1.1 Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh L phạm tội “Cướp giật tài sản”.
1.2 Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh L 04 (Bốn) năm 06 (S) tháng tù.
Thời hạn tù tính từ ngày 25/9/2022.
2. Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại, đại diện hợp pháp của các bị hại đã nhận lại tài sản xong và không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không xem xét giải quyết. Anh Nguyễn Minh L3 không có yêu cầu bị cáo Nguyễn Thanh L trả lại số tiền mà anh L3 đã bồi thường thay cho bị cáo nên không xem xét giải quyết.
3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm c khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
- Tịch thu, tiêu hủy: 01 nón bảo hiểm, loại nón sơn màu xanh đen, có phần mõ nón màu đen, 01 nón kết bằng vải màu trắng có thêu hình lá cờ và dòng chữ USA màu cam, phần mõ nón kết màu cam, 01 áo khoát nam bằng vải màu xám đen, 01 đôi dép lào bằng mũ màu cam, 01 quần sọt bằng vải màu xanh.
Hiện vật chứng đang quản lý tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tam Bình theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 06/02/2023.
- Trả cho bị cáo Nguyễn Thanh L số tiền 470.000đ (Bốn trăm bảy mươi ngàn đồng) theo Biên lai thu tiền số No 0004743 ngày 07/02/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tam Bình.
- Giao 01 xe mô tô loại Wave màu xanh, 01 biển số xe 64B1 – 686.02 và 01 biển số xe 54K6 – 0081 cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T tiếp tục điều tra, làm rõ và xử lý theo quy định pháp luật.
4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Nguyễn Thanh L phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Vĩnh Long; - VKSND tỉnh Vĩnh Long; - Sở Tư pháp tỉnh Vĩnh Long; - Phòng hồ sơ – Công an tỉnh Vĩnh Long - VKSND huyện Tam Bình; - Chi cục THADS huyện Tam Bình; - CQĐT Công an huyện Tam Bình; - Nhà tạm giữ Công an huyện Tam Bình; - Bị cáo; - Bị hại; - Những người tham gia tố tụng khác; - UBND xã Song Phú, huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Trần Thanh Thảo |