- Tranh chấp gì? án hình sự — "Cướp giật tài sản - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? * Căn cứ vào: khoản 1 Điều 171, điều 38, điều 47, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; Điều 106, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, c khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về…
- Căn cứ chính? Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NĂM CĂN TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 09/2023/HS-ST Ngày 12-5-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NĂM CĂN, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Thị Hồng Ngân
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Hồng Nhiếp
Ông Nguyễn Quốc Thống
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Thành Công – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Năm Căn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Năm Căn tham gia phiên tòa: Ông Trần Minh Cảnh - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 5 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Năm Căn, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 09/2023/TLST-HS ngày 21 tháng 03 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2023/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 4 năm 2023 đối với bị cáo:
Lê Trường A (tên gọi khác Chó Lùn), sinh năm 2001; nơi cư trú: Ấp R, xã Đ, huyện N, tỉnh C; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 01/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Trường Giang và bà Nguyễn Thị Mén; vợ, con: Chưa; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 11/9/2019 bị Tòa án nhân dân huyện Ngọc Hiển xử phạt 04 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, đã chấp hành xong ngày 24/4/2020, đã được xóa án tích; bị bắt, tạm giam ngày 12/12/2022 cho đến ngày 04/5/2023 bị cáo bỏ trốn (có mặt).
- Bị hại: Ông Đinh Văn T, sinh năm 1960 (xin vắng).
Nơi đăng ký thường trú: Ấp An Trung, xã An Thạnh, huyện Cù Lao Dung, tỉnh Sóc Trăng.
Địa chỉ cư trú: Khóm 3, phường 5, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Nguyễn Văn T (tên gọi khác Tèo), sinh năm 1988 (vắng mặt).
Địa chỉ cư trú: Ấp Đường Kéo, xã Tân Ân Tây, huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 17 giờ ngày 04/12/2022 tại Bến xe Cà Mau, Lê Trường A thuê ông Đinh Văn T chở về huyện Năm Căn với giá 200.000 đồng. A nói với ông T nếu cho A mượn điện thoại để chơi game và liên hệ với người nhà thì A sẽ cho thêm 300.000 đồng, ông Tuấn đồng ý.
Ông T điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 69K6 - 0058 của ông chở A đi về hướng Năm Căn, trên đường đi ông T đưa điện thoại hiệu Sam Sung A03S cho A sử dụng. Khi về đến thị trấn Năm Căn, A nảy sinh ý định chiếm đoạt xe và điện thoại của ông T để bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. A kêu ông T chạy xe vào một đoạn đường vắng thuộc khóm Sa Phô, thị trấn Năm Căn, huyện Năm Căn, khi đến một ngôi nhà khóa cửa ngoài thì A nói đã đến nhà và kêu ông Tuấn dừng xe cho A xuống. Ông T dừng xe và quay đầu xe hướng ra Quốc lộ 1A, chìa khóa xe vẫn còn cắm trên ổ khóa. A kêu ông T vào võng cách vị trí xe đậu khoảng 06m ngồi đợi. Khi ông T đi vào võng, A cầm điện thoại của ông T, nhanh chóng đi đến vị trí xe đậu, đề máy, điều khiển xe bỏ chạy, ông T truy hô nhưng không bắt được.
Sau khi chiếm đoạt được tài sản, A đến nhà của ông Nguyễn Văn T thuộc ấp Đường Kéo, xã Tân Ân Tây, huyện Ngọc Hiển. A mở yên xe kiểm tra thì phát hiện có một bóp da nam, bên trong bóp có 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe biển kiểm soát 69K6 - 0058 mang tên Võ Đình Lễ, 01 (một) giấy chứng minh nhân dân phô tô mang tên Đinh Văn Tuấn và 01 (một) giấy tiêm ngừa vắc xin. A giữ lại giấy chứng nhận đăng ký xe còn bóp và giấy tờ khác A ném bỏ.
Sáng ngày 05/12/2022, A nhờ ông T đi cầm xe mô tô biển kiểm soát 69K6 - 0058 của ông T nhưng không ai nhận cầm nên ông T mua xe với giá 3.000.000 đồng (ba triệu đồng). A mang điện thoại hiệu Sam Sung A03S đến tỉnh Sóc Trăng cầm cho một người phụ nữ (không rõ họ tên và địa chỉ) số tiền 1.000.000 đồng (một triệu đồng). Tất cả tiền bán xe và tiền cầm điện thoại A chi xài cá nhân hết.
Đến ngày 10/12/2022 ông Đinh Văn T đến Công an huyện Năm Căn trình báo nội dung sự việc. Sau đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Năm Căn tiến hành mời bị cáo làm việc. Tại đây, bị cáo Lê Trường A thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Cơ quan điều tra đã tiến hành tạm giữ một số tài sản sau:
- 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Sirius, màu xám – đen – vàng biển kiểm soát 69K6 – 0058 và 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển kiểm soát 69K6 - 0058 mang tên Võ Đình Lễ.
- 01 (một) áo mưa màu xanh; 01 (một) nón bảo hiểm thể thao sọc đen, vàng, đỏ; 01 (một) quần Jean lửng màu xanh nhạt, có hai túi phía trước, hai túi phía sau; 01 (một) áo sơ mi ngắn tay, sọc caro màu nâu, phía trước ngực bên trái có dòng chữ EVISU, phía sau lưng áo có hình mặt người, phía dưới mặt người có chữ EVISU, xung quanh mặt người có dòng chữ BEFORE ANY ONE DID ANYTHING EVISU.
Đối với 01 bóp da nam và 01 điện thoại di động Sam Sung A03S không thu giữ được.
Tại Kết luận định giá tài sản số 11/KL-HĐĐGTS ngày 17/12/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Năm Căn kết luận:
- 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Sirius, màu xám – đen – vàng, đã qua sử dụng giá trị còn lại là 5.833.000 đồng (Năm triệu tám trăm ba mươi ba nghìn đồng).
- 01 điện thoại di động Sam Sung A03S đã qua sử dụng, giá trị còn lại là 2.563.000 đồng (Hai triệu năm trăm sáu mươi ba nghìn đồng).
Tổng giá trị tài sản định giá là 8.396.000 đồng (Tám triệu ba trăm chín mươi sáu nghìn đồng). Đối với bóp da nam do không đủ thông tin nên không xác định giá trị.
Tại bản cáo trạng số: 10/CT-VKSNC ngày 21 tháng 3 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Năm Căn, tỉnh Cà Mau truy tố đối với bị cáo Lê Trường A về tội “Cướp giật tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 171 Bộ luật Hình sự.
* Tại phiên tòa:
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Năm Căn giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Khoản 1 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, tuyên bố bị cáo phạm tội “Cướp giật tài sản”, đề nghị xử phạt bị cáo A từ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù đến 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù; tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền thu lợi bất chính 1.000.000 đồng; Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu nên không xem xét, buộc bị cáo trả lại cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án là ông Nguyễn Văn T số tiền 3.000.000 đồng; Về xử lý vật chứng: Bị hại đã nhận lại tài sản nên không đặt ra xem xét, đối với tài sản bị tạm giữ của bị cáo do bị cáo không có yêu cầu nhận lại nên đề nghị tịch thu, tiêu hủy.
- Bị cáo Lê Trường A thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, bị cáo thống nhất về tội danh mà Viện kiểm sát truy tố, bị cáo đồng ý trả cho ông Nguyễn Văn T số tiền 3.000.000 đồng. Đối với tài sản của bị cáo bị tạm giữ, do không còn giá trị sử dụng nên bị cáo không có yêu cầu nhận lại. Trong lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm hòa nhập với cộng đồng.
- Bị hại ông Đinh Văn T và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án là ông Nguyễn Văn T vắng mặt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Năm Căn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Năm Căn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp và đúng theo quy định của pháp luật.
Về tình tiết định tội, định khung, tính chất mức độ hành vi phạm tội: Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, qua đối chiếu với lời khai tại cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án nhận thấy phù hợp với nhau, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa có đủ cơ sở kết luận:
Vào ngày 04/12/2022, ông Đinh Văn T điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 69K6 - 0058 chở A từ Bến xe Cà Mau về Năm Căn. Khi đến đoạn đường vắng thuộc khóm Sa Phô, thị trấn Năm Căn, huyện Năm Căn, tỉnh Cà Mau thì A nảy sinh ý định chiếm đoạt xe mô tô biển kiểm soát 69K6 – 0058 và điện thoại hiệu Sam Sung A03S của ông T. Lợi dụng sự sơ hở của bị hại, bị cáo nhanh chóng điều khiển xe tẩu thoát cùng với điện thoại của bị hại. Theo kết luận định giá, tài sản bị cáo chiếm đoạt có giá trị là 8.396.000 đồng (Tám triệu ba trăm chín mươi sáu nghìn đồng). Đối với bóp da nam, do không đủ thông tin nên không xác định giá trị và bị hại cũng không đặt ra yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Xét thấy, quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật công nhận và bảo vệ, do bản tính tham lam, lười lao động muốn có tiền một cách nhanh chóng nên bị cáo đã thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của bị hại. Tại thời điểm phạm tội bị cáo A có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Bị cáo nhận thức được việc chiếm đoạt trái phép tài sản của bị hại là trái pháp luật nhưng vẫn thực hiện nhằm mục đích chiếm đoạt bằng được xe mô tô biển kiểm soát 69K6 – 0058 và điện thoại hiệu Sam Sung A03S của bị hại. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự trị an tại địa phương, bị cáo phạm tội với lỗi cố ý. Vì vậy, bản cáo trạng số 10/CT-VKSNC ngày 21 tháng 3 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Năm Căn, tỉnh Cà Mau truy tố hành vi của bị cáo phạm tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 171 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.
Bị cáo Lê Trường A có nhân thân xấu, ngày 11/9/2019 bị Tòa án nhân dân huyện Ngọc Hiển xử phạt 04 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, bị cáo đã chấp hành xong ngày 24/4/2020, đã được xóa án tích. Trong thời gian tạm giam chờ xét xử, bị cáo A tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội tại Nhà tạm giữ Công an huyện Năm Căn. Bị cáo đã có hành vi trốn khỏi nơi giam, giữ vào ngày 04/5/2023 và đã bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Năm Căn bắt lại lúc 23 giờ 45 phút ngày 05/5/2023. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Năm Căn đã khởi tố, tạm giam bị cáo về “Tội trốn khỏi nơi giam, giữ” theo quy định tại khoản 1 Điều 386 Bộ luật Hình sự, trong vụ án khác. Qua đó, thể hiện ý thức coi thường pháp luật của bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy cần phải có mức hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo để cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm giáo dục, răn đe, cải tạo bị cáo trở thành người tốt, sống có ích cho gia đình và xã hội.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, bị cáo A đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Về tình tiết tăng nặng: Không có.
Đối với ông Nguyễn Văn T khi mua xe của bị cáo bán với số tiền 3.000.000 đồng thì ông không biết đây là tài sản do bị cáo phạm tội mà có nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Năm Căn không xem xét xử lý ông T về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” là đúng quy định.
Đối với người phụ nữ nhận cầm điện thoại cho bị cáo, do bị cáo không biết nhân thân lai lịch nên đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Năm Căn tiếp tục điều tra, xử lý sau.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- 01 (một) xe mô tô biển kiểm soát 69K6 – 0058, nhãn hiệu Sirius, màu xám – đen – vàng và 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe biển kiểm soát 69K6
- 0058 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Năm Căn đã trả lại cho bị hại đúng quy định nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Tịch thu sung công quỹ Nhà nước số tiền thu lợi bất chính do bị cáo cầm điện thoại 1.000.000 đồng (một triệu đồng), buộc bị cáo giao nộp số tiền này.
- Đối với các vật chứng là tài sản của bị cáo gồm: 01 (một) áo mưa màu xanh; 01 (một) nón bảo hiểm thể thao sọc đen, vàng, đỏ; 01 (một) quần Jean lửng màu xanh nhạt, có hai túi phía trước, hai túi phía sau; 01 (một) áo sơ mi ngắn tay, sọc caro màu nâu, phía trước ngực bên trái có dòng chữ EVISU, phía sau lưng áo có hình mặt người, phía dưới mặt người có chữ EVISU, xung quanh mặt người có dòng chữ BEFORE ANY ONE DID ANYTHING EVISU, do không còn giá trị sử dụng và bị cáo không có yêu cầu nhận lại nên tịch thu, tiêu hủy. Các vật chứng này do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Năm Căn quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 22 tháng 3 năm 2023, (bút lục 143).
Về trách nhiệm dân sự:
Bị hại ông Đinh Văn T không yêu cầu nên không đặt ra xem xét.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn T yêu cầu bị cáo Lê Trường A hoàn trả cho ông T số tiền mua xe 3.000.000 đồng. Tại phiên tòa bị cáo đồng ý trả cho ông T số tiền này. Xét yêu cầu của ông T là có căn cứ nên buộc bị cáo Lê Trường A giao trả lại cho ông T là phù hợp.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án, trường hợp bị cáo chậm thực hiện nghĩa vụ thì hàng tháng bị cáo A còn phải chịu thêm khoản tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về áp dụng điều luật, tội danh, mức hình phạt đối với bị cáo và các vấn đề khác là có căn cứ được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, c khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Lê Trường A chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch.
Do bị cáo Lê Trường A đang bị khởi tố, tạm giam trong vụ án khác nên Hội đồng xét xử không tiếp tục giam bị cáo.
Quyền kháng cáo: Bị cáo và những người tham gia tố tụng có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
* Căn cứ vào: khoản 1 Điều 171, điều 38, điều 47, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; Điều 106, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, c khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Tuyên bố bị cáo Lê Trường A (tên gọi khác Chó Lùn) phạm tội “Cướp giật tài sản”.
Xử phạt bị cáo Lê Trường A (tên gọi khác Chó Lùn) 03 (ba) năm tù, thời hạn tù được tính kể từ ngày bắt bị cáo chấp hành án, được trừ thời gian tạm giam từ ngày 12/12/2022 đến ngày 04/5/2023.
2. Về xử lý vật chứng:
- Buộc bị cáo Lê Trường A (tên gọi khác Chó Lùn) phải giao nộp số tiền 1.000.000 đồng (một triệu đồng) để tịch thu sung công quỹ Nhà nước.
- Tịch thu tiêu hủy các vật chứng sau: 01 (một) áo mưa màu xanh; 01 (một) nón bảo hiểm thể thao sọc đen, vàng, đỏ; 01 (một) quần Jean lửng màu xanh nhạt, có hai túi phía trước, hai túi phía sau; 01 (một) áo sơ mi ngắn tay, sọc caro màu nâu, phía trước ngực bên trái có dòng chữ EVISU, phía sau lưng áo có hình mặt người, phía dưới mặt người có chữ EVISU, xung quanh mặt người có dòng chữ BEFORE ANY ONE DID ANYTHING EVISU. Các vật chứng này do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Năm Căn quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 22 tháng 3 năm 2023.
3. Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Lê Trường A (tên gọi khác Chó Lùn) phải trả cho ông Nguyễn Văn T số tiền là 3.000.000 đồng (ba triệu đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án, trường hợp bị cáo chậm thực hiện nghĩa vụ thì hàng tháng bị cáo Lê Trường A còn phải chịu thêm khoản tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.
4. Về án phí: Bị cáo Lê Trường A (tên gọi khác Chó Lùn) chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch.
5. Quyền kháng cáo: Án xử sơ thẩm, bị cáo, những người tham gia tố tụng có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, vắng mặt tính từ ngày nhận bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự”.
| Nơi nhận: - Sở tư pháp; - Tòa án tỉnh Cà Mau; - Công an huyện Năm Căn; - VKSND huyện Năm Căn; - VKSND tỉnh Cà Mau; - Chi cục THADS huyện Năm Căn; - Những người tham gia TT; - Lưu HS, VT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trương Thị Hồng Ngân |