- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Tấn P1 phạm tội Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tấn P1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘ ĐỨC TỈNH QUẢNG NGÃI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 09/2023/HS-ST Ngày: 22/3/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘ ĐỨC, TỈNH QUẢNG NGÃI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Thanh Sang
Các Hội thẩm nhân dân:
+ Ông Trần Văn Kiệm
+ Ông Phạm Thanh Lý
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Nguyễn Trọng Thành, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Thanh – Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 3 năm 2023, tại Tòa án nhân dân huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 04/2023/TLST-HS ngày 21 tháng 3 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 04/2023/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 3 năm 2023 đối với bị cáo:
Nguyễn Tấn P1, sinh ngày 26 tháng 6 năm 1993 tại tỉnh Bình Định;
Nơi cư trú: Thôn T, xã C, huyện P, tỉnh Bình Định; nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ văn hoá (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn N (Đã chết) và bà Trần Thị T, sinh năm 1966; vợ: Nguyễn Trịnh K, sinh năm 1997; con: có 01 con sinh năm 2022; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 24/02/2016, bị Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn xử phạt 04 (bốn) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng về hành vi trộm cắp tài sản. Ngày 29/9/2016, bị Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn xử phạt 18 (mười tám) tháng tù về hành vi trộm cắp tài sản, tổng hợp hình phạt chung cho cả hai bản án là 22 (hai mươi hai) tháng tù. Nguyễn Tấn P chấp hành án tại Trại giam Kim Sơn đến ngày 09/02/2018 thì chấp hành xong. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/12/2022 đến ngày 06/02/2023; bị cáo được thay đổi biện pháp ngăn chặn áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 06/02/2023 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Người bào chữa cho bị cáo: Ông Lê Hoàng H, Luật sư công ty luật TNHH MTV T, thuộc đoàn luật sư tỉnh Quảng Ngãi. Có mặt.
- Bị hại: Ông Nguyễn Văn P2, sinh năm 1977. Nơi cư trú: T 2, thị trấn M, huyện M, tỉnh Quảng Ngãi. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 19 giờ, ngày 29/11/2022, bị cáo Nguyễn Tấn P1 điều khiển xe ô tô đầu kéo biển số 43C-073.71 kéo theo rơ móc biển số 29R-048.15 xuất phát từ Khu Công nghiệp Điện Ngọc thuộc thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam chở hàng hóa vào thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định. Đến khoảng 23 giờ cùng ngày khi đến địa phận thuộc t 2, thị trấn M, huyện M, tỉnh Quảng Ngãi thì Phát dừng xe đậu ven đường Quốc lộ 1A để ngủ nghỉ trên cabin xe. Đến khoảng 03 giờ sáng, ngày 30/11/2022, Phát tiếp tục điều khiển xe đi trên đường Quốc lộ 1A hướng Bắc Nam, khi đi được một đoạn khoảng 200m thì Phát nhìn thấy 01 (một) xe ô tô tải biển số 54Y-7504 của ông Nguyễn Văn P2 đang đậu ở đường nội thị Khu dân cư A thuộc t 2, thị trấn M, huyện M, tỉnh Quảng Ngãi không có người trông coi nên bị cáo P1 nảy sinh ý định lấy trộm bình ắc quy của xe ô tô tải bán lấy tiền tiêu xài. Bị cáo P1 điều khiển xe ô tô đầu kéo dừng lại đậu sát xe ô tô tải, lúc này P1 cầm lấy 01 (một) kìm cộng lực có sẵn trên xe ô tô đầu kéo đi đến vị trí gắn bình ắc quy của xe ô tô tải và dùng kìm cộng lực bấm đứt các sợi dây điện gắn vào 02 (hai) bình ắc quy trên xe ô tô tải rồi lấy 02 (hai) bình ắc quy trộm được và kìm cộng lực để ở dưới ghế tài phụ trên cabin xe ô tô đầu kéo, sau đó tiếp tục điều khiển xe đi vào tỉnh Bình Định. Sau khi giao hàng tại tỉnh Bình Định xong thì đến tối ngày 01/12/2022, bị cáo Phát điều khiển xe ô tô đầu kéo nói trên quay ra lại thành phố Đà Nẵng, đến khoảng 01 giờ ngày 02/12/2022, khi đến địa phận thị xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi thì Công an huyện Mộ Đức phối hợp cùng Trạm Cảnh sát giao thông Đức Phổ dừng xe, mời làm việc đối với bị cáo P1. Quá trình làm việc bị cáo P1 đã khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản của mình (trên xe ô tô của P1 còn chở 02 bình ắc quy trộm được).
Ngày 02/12/2022, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Mộ Đức có kết luận định giá tài sản số 24/KL-HĐĐGTS kết luận giá trị tài sản của 02 (hai) bình ắc quy màu trắng, trên thân mỗi bình ắc quy có ghi nhãn hiệu dongnai là 2.720.000đ (hai triệu bảy trăm hai mươi nghìn đồng).
Tại bản cáo trạng số 06/CT-VKS ngày 20/02/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi truy tố bị cáo Nguyễn Tấn P1 về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộ Đức vẫn giữ nguyên Cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tấn P1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”; áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Nguyễn Tấn P1 từ 09 đến 12 tháng tù.
Về dân sự: Người bị hại ông Nguyễn Văn P2 đã nhận lại tài sản bị trộm cắp và không có yêu cầu gì thêm về dân sự nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 kìm cộng lực bằng kim loại dài 45cm.
Người bào chữa cho bị cáo trình bày: Bị cáo P1 phạm tội giá trị tài sản không lớn; bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bị cáo là do suy nghĩ nông cạn. Sau khi phạm tội bị cáo đã bồi thường thiệt hại cho bị hại 2.000.000 đồng; bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn; mẹ già yếu, vợ đang nuôi con nhỏ; bị cáo là lao động chính trong gia đình. Nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 65 để xét xử cho bị cáo hưởng án treo để bị cáo lo cho mẹ già, vợ và con nhỏ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện Mộ Đức, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộ Đức, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng thẩm quyền, đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Trần Trung Thành và những người tham gia tố tụng đều không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. Hành vi bào chữa cho bị cáo tại phiên tòa là hợp pháp.
Tại phiên tòa, bị hại ông Nguyễn Văn P2 vắng mặt nhưng đã có lời khai trong quá trình điều tra nên việc vắng mặt của bị hại không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án. Do đó, căn cứ theo quy định tại các điều 292, 293 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Tấn P1 đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộ Đức đã truy tố. Lời khai của bị cáo Nguyễn Tấn P1 tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, truy tố; phù hợp với lời khai của bị hại và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án nên có cơ sở xác định: Vì muốn có tiền tiêu xài cá nhân nên vào ngày 30/11/2022, bị cáo Nguyễn Tấn P1 đã có hành vi trộm cắp tài sản là 02 bình ắc quy trên xe ô tô ông Nguyễn Văn P2 có giá trị là 2.720.000đ (hai triệu bảy trăm hai mươi nghìn đồng).
Khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản nêu trên, bị cáo Nguyễn Tấn P1 có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình, bị cáo nhận thức được hành vi trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn lén lút thực hiện. Tổng giá trị tài sản mà bị cáo đã trộm cắp được Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Mộ Đức kết luận là 2.720.000 đồng (Hai triệu bảy trăm hai mươi nghìn đồng).
Hành vi của bị cáo Nguyễn Tấn P1 là nguy hiểm cho xã hội, không chỉ xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự xã hội tại địa phương. Mặc dù bị cáo đã nhiều lần bị Tòa án đưa ra xét xử và xử phạt bằng hình phạt tù có thời hạn về tội “Trộm cắp tài sản”, nhưng sau khi chấp hành xong hình phạt tù, bị cáo lại tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Hành vi của bị cáo thể hiện thái độ coi thường pháp luật, không biết ăn năn hối cải đối với những lỗi lầm mà bị cáo đã gây ra. Do đó, cần phải áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo và cần buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tại cơ sở giam giữ trong một thời hạn nhất định để răn đe, giáo dục bị cáo, cũng như để phòng ngừa chung tội phạm.
Tuy nhiên, trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Nguyễn Tấn P1 đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, đã bồi thường thiệt hại cho bị hại và bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên khi quyết định hình phạt đối với bị cáo cần xem xét, áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Về dân sự: Bị hại ông Nguyễn Văn P2 đã nhận lại tài sản bị trộm cắp và không có yêu cầu gì thêm về dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về xử lý vật chứng:
Đối với 01 (một) kìm cộng lực bằng kim loại dài 45cm, có cán màu xanh đen. Đây là công cụ mà Nguyễn Tấn Phát sử dụng vào việc trộm cắp tài sản, còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.
Về án phí: Bị cáo Nguyễn Tấn P1 phải chịu 200.000đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại các điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Về căn cứ truy tố và luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộ Đức tại phiên tòa là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Ý kiến của người bào chữa cho bị cáo không phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên không được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tấn P1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Tấn P1 01 (một) năm tù. Được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/12/2022 đến ngày 06/02/2023 khi bắt bị cáo đi chấp hành án.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Tịch thu, sung quỹ Nhà nước 01 (một) hộp giấy đã được niêm phong có đóng dấu của Cơ quan CSĐT Công an huyện Mộ Đức, 01 (một) chữ ký ghi rõ họ tên Nguyễn Đình Triều, 01 (một) chữ ký ghi rõ họ tên Nguyễn Bùi Anh Duy, 01 (một) chữ ký ghi rõ họ tên Nguyễn Tấn P1, 01 (một) chữ ký ghi rõ họ tên Nguyễn Tấn Cường bên trong có 01 (một) kìm cộng lực bằng kim loại dài 45cm, có cán màu xanh đen (Không kiểm tra trong hộp giấy niêm phong).
Theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 02/3/2023 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Mộ Đức và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi.
3. Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Buộc bị cáo Nguyễn Tấn P1 phải chịu 200.000đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào các điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Bị cáo Nguyễn Tấn P1 có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Quảng Ngãi; - VKSND tỉnh Quảng Ngãi; - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Ngãi; - VKSND huyện Mộ Đức; - CQCSĐT Công an huyện Mộ Đức; - Cơ quan THAHS Công an huyện Mộ Đức; - Chi Cục THADS huyện Mộ Đức; - Bị cáo; - Những người tham gia tố tụng khác; - Lưu: Hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Trần Thanh Sang |