- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vụ án hình sự - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đ Th Ng, Đ X Ch phạm tội: “ Trộm cắp tài sản”
- Căn cứ chính? luật dân sự buộc Đ Th Ng và Đ X Ch phải liên đới bồi thường; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MINH HOÁ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH QUẢNG BÌNH Bản án số: 09/2023/HS-ST Ngày: 13/4/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MINH HOÁ, TỈNH QUẢNG BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Minh Toàn
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông: Đinh Minh Tặng
Ông: Trương Ngọc Nhân
- Thư ký phiên toà: Bà Vũ Thị Hà–Thư ký Toà án nhân dân huyện Minh Hoá.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Minh Hoá tham gia phiên tòa: Bà Đinh Thị Hoài Thanh - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 4 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 03/2023/TLST-HS ngày 01 tháng 3 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2023/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 3 năm 2023 đối với các bị cáo:
1/. Bị cáo: Đ Th Ng, sinh ngày: 16 tháng 10 năm 2001 tại: Thị trấn Qu Đ, huyện M H, tỉnh Quảng Bình. Nơi cư trú: Tổ dân phố 3, thị trấn Qu Đ, huyện M H, tỉnh Quảng Bình; nghề nghiệp: Không nghề nghiệp; trình độ văn hoá: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đ Th H, sinh năm 1973 và con bà Đ Th Á T, sinh năm 1983, vợ, con: Chưa có; tiền sự: Không; tiền án: Không. ( Nhân thân: Ngày 10/3/2022 bị Công an thị trấn Qu Đ, huyện Minh Hóa xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “ sử dụng trái phép chất ma túy” số tiền 1.500.000 đồng, chưa nộp phạt). Bị cáo bị tạm giam từ ngày 18/11/2022 cho đến nay, có mặt.
2/. Bị cáo: Đ X Ch, sinh ngày: 02 tháng 11 năm 1995 tại: Thị trấn Qu Đ, huyện M H, tỉnh Quảng Bình. Nơi cư trú: Tổ dân phố 3, thị trấn Qu Đ, huyện M H, tỉnh Quảng Bình; nghề nghiệp: Không nghề nghiệp; trình độ văn hoá: 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đ K Th, sinh năm 1959 và con bà Đ Th H, sinh năm 1968, vợ, con: Chưa có; tiền sự: 01 ( Ngày 31/3/2022 bị Công an thị trấn Qu Đ, huyện Minh Hóa xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “cố ý gây thương tích” số tiền 5.000.000 đồng, đã nộp phạt ngày 28/4/2022); tiền án: Không. ( Nhân thân: Ngày 03/4/2020 bị Công an thị trấn Qu Đ, huyện Minh Hóa xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “ sử dụng trái phép chất ma túy” số tiền 750.000 đồng, đã nộp phạt ngày 3/4/2020. Ngày 31/3/2022 bị Công an huyện Minh Hóa xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “ cố ý gây thương tích” số tiền 5.000.000 đồng, đã nộp phạt ngày 28/4/2022. Ngày 08/02/2023 bị Công an huyện Minh Hóa xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “trộm cắp tài sản” số tiền 2.500.000 đồng). Bị cáo bị tạm giam từ ngày 18/11/2022 cho đến nay, có mặt.
- Bị hại: Công ty TNHH xây dựng tổng hợp T Ph
Người đại diện theo ủy quyền: Anh Ng V N – sinh năm 1976
Địa chỉ: Thôn V Ph, xã Qu L, thị xã B Đ, tỉnh Quảng Bình. Vắng mặt
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
Bà V Th Nh – sinh năm 1966
Địa chỉ: Tổ dân phố 6, thị trấn Qu Đ, huyện M H, Quảng Bình. Có mặt
Anh Đ Th H – sinh năm 1973
Địa chỉ: Tổ dân phố 3, thị trấn Qu Đ, huyện M H, Quảng Bình. Có mặt
- Người làm chứng:
Anh Ph A T – sinh năm 2000
Địa chỉ: Thôn C L, xã X H, huyện M H, Quảng Bình. Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trong khoảng thời gian từ ngày 05/10/2022 đến 10/10/2022 Đ X Ch và Đ Th Ng cùng trú tại tổ dân phố 3, thị trấn Qu Đ, huyện Minh Hóa đã nhiều lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản cụ thể như sau:
Lần 1: Khoảng 23 giờ ngày 05/10/2022, Đ X Ch đi qua đoạn đường nội thị thuộc tổ dân phố 5, thị trấn Qu Đ, huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình. Ch thấy những tấm khuôn kim loại để trong khu vực xây dựng bờ kè của Công ty TNHH xây dựng tổng hợp T Ph nên nảy sinh ý định trộm cắp tài sản bán lấy tiền tiều xài cá nhân. Đ X Ch đã rủ Đ Th Ng đi lấy trộm tài sản, Ng đồng ý. Sau đó Đ Th Ng sử dụng xe mô tô Biển kiểm soát 73G1 – 073.. chở Ch đến khu vực nói trên, cả hai khiêng 01 tấm ván khuôn kim loại bỏ lên xe. Sau đó Ng chở Ch cùng tấm ván khuôn thép vào “H Kh” thuộc xã X H để cất giấu. Trưa ngày 06/10/2022 Ng hẹn Ch đưa tấm kim loại lấy trộm được đi bán nhưng Ch không đi, nên Ng rủ Ph A T, sinh năm 2002 đem tấm ván khuôn kim loại nói trên đến điểm thu mua phế liệu “Th T” của bà V Th Nh, sinh năm 1966, trú tại tổ dân phố 6, thị trấn Qu Đ, huyện Minh hóa, tỉnh Quảng Bình bán lấy số tiền 350.000 đồng.
Lần 2: Khoảng 19 giờ ngày 06/10/2022, Ng hẹn Ch tiếp tục đi trộm tấm ván khuôn kim loại bán lấy tiền, thì Ch đồng ý. Ng sử dụng xe mô tô Biển kiểm soát 73G1 – 073.. chở Ch đến khu vực đoạn đường nội thị thuộc tổ dân phố 5, thị trấn Qu Đ trộm 01 tấm ván khuôn kim loại bỏ lên xe rồi chở đến điểm thu mua phế liệu “Th T” của bà V Th Nh bán lấy số tiền 300.000 đồng.
Lần 3: Khoảng 19 giờ ngày 08/10/2022, Ch hẹn Ng tiếp tục đi trộm tấm ván khuôn kim loại để bán lấy tiền, Ng đồng ý. Ng sử dụng xe mô tô Biển kiểm soát 73G1 – 073.. chở Ch đến khu vực đoạn đường nội thị thuộc tổ dân phố 5, thị trấn Qu Đ trộm 01 tấm ván khuôn kim loại bỏ lên xe rồi chở đến điểm thu mua phế liệu “Th T” của bà V Th Nh bán lấy số tiền 290.000 đồng.
Lần 4: Ngày 09/10/2022 Ch cùng Ng tiếp tục thực hiện 03 lần trộm cắp tài sản: Khoảng 12 giờ ngày 09/10/2022, Ng hẹn Ch đi trộm tấm ván khuôn kim loại bán lấy tiền, Ch đồng ý. Sau đó Ng sử dụng xe mô tô Biển kiểm soát 73G1 – 073.. chở Ch đến khu vực đoạn đường nội thị thuộc tổ dân phố 5, thị trấn Qu Đ lấy trộm 01 tấm ván khuôn kim loại bỏ lên xe rồi chở đến điểm thu mua phế liệu “Th T” của bà V Th Nh bán lấy số tiền 290.000 đồng. Đến 19 giờ cùng ngày, Ng tiếp tục hẹn với Ch đi trộm tấm ván khuôn kim loại để bán lấy tiền, Ng sử dụng xe mô tô Biển kiểm soát 73G1 – 073.. chở Ch đến khu vực đoạn đường nội thị thuộc tổ dân phố 5, thị trấn Qu Đ lấy trộm 01 tấm ván khuôn kim loại bỏ lên xe chở đến điểm thu mua phế liệu “Th T” của bà V Th Nh bán lấy số tiền 300.000 đồng. Sau khi bán xong Ng, Ch tiếp tục quay lại vị trí cũ trộm thêm 01 tấm ván khuôn kim loại và chở xuống điểm thu mua phế liệu “Th T” của bà V Th Nh bán lấy số tiền 370.000 đồng.
Lần 5: Tối 10/10/2022, Ch hẹn Ng đi trộm tấm ván khuôn kim loại để bán lấy tiền, Ng đồng ý. Sau đó Ng sử dụng xe mô tô Biển kiểm soát 73G1 – 073.. chở Ch đến khu vực đoạn đường nội thị thuộc tổ dân phố 5, thị trấn Qu Đ lấy trộm 01 tấm ván khuôn kim loại bỏ lên xe chở đến điểm thu mua phế liệu “Th T” của bà V Th Nh bán lấy số tiền 310.000 đồng.
Tổng số tiền Đ Th Ng và Đ X Ch bán được 2.210.000 đồng, cả hai đều tiêu xài cá nhân hết.
Tại bản Kết luận định giá tài sản số: 19/KLĐG - HĐĐG ngày 26/10/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Minh Hóa, kết luận:
+ Trị giá tấm ván khuôn bằng kim loại kí hiệu T1 tại thời điểm bị mất trộm vào ngày 05/10/2022 tại tổ dân phố 5, thị trấn Qu Đ, huyện Minh Hóa là: 2.394.000 đồng (hai triệu ba trăm chín tư nghìn đồng).
+ Trị giá tấm ván khuôn bằng kim loại kí hiệu T2 tại thời điểm bị mất trộm vào ngày 06/10/2022 tại tổ dân phố 5, thị trấn Qu Đ, huyện Minh Hóa là: 2.100.000 đồng. (Hai triệu một trăm nghìn đồng).
+ Trị giá tấm ván khuôn bằng kim loại kí hiệu T3 tại thời điểm bị mất trộm vào ngày 08/10/2022 tại tổ dân phố 5, thị trấn Qu Đ là: 2.016.000 đồng. (Hai triệu không trăm mười sáu nghìn đồng).
+ Trị giá tấm ván khuôn bằng kim loại kí hiệu T4 tại thời điểm bị mất trộm vào ngày 09/10/2022 tại tổ dân phố 5, thị trấn Qu Đ là: 2.058.000 đồng. (Hai triệu không trăm năm mươi tám nghìn đồng).
+ Trị giá tấm ván khuôn bằng kim loại kí hiệu T5 bị mất trộm vào ngày 09/10/2022 tại tổ dân phố 5, thị trấn Qu Đ là: 2.184.000 đồng. (Hai triệu một trăm tám mươi bốn nghìn đồng).
+ Trị giá tấm ván khuôn bằng kim loại kí hiệu T6 bị mất trộm vào ngày 09/10/2022 tại tổ dân phố 5, thị trấn Qu Đ là: 2.520.000 đồng. (Hai triệu năm trăm hai mươi nghìn đồng).
+ Trị giá tấm ván khuôn bằng kim loại kí hiệu T7 bị mất trộm vào ngày 10/10/2022 tại tổ dân phố 5, thị trấn Qu Đ là: 2.268.000 đồng (Hai triệu hai trăm sáu mươi tám nghìn đồng).
Tổng giá trị tài sản tại thời điểm bị mất trộm là 15.540.000 đồng (Mười lăm triệu năm trăm bốn mươi nghìn đồng).
+ 01 (một) tấm ván khuôn bằng kim loại bị mất trộm vào ngày 5/10/2022 kích thước (1x1,5) mét, nặng 57kg. Trên tấm kim loại có một mặt nhẵn kích thước dày 3mm, một mặt được làm bằng các thanh kim loại với nhau, kích thước kim loại V5x5 dày 5mm, chia thành 6 ô. Tấm ván khuôn đã bị hoen rỉ (kí hiệu T1).
+ 01 (một) tấm ván khuôn bằng kim loại bị mất trộm vào ngày 6/10/2022 kích thước (1x1,5) mét, nặng 50kg. Trên tấm kim loại có một mặt nhẵn kích thước dày 3mm, một mặt được làm bằng các thanh kim loại với nhau, kích thước kim loại V5x5 dày 5mm, chia thành 6 ô. Tấm ván khuôn đã bị hoen rỉ ( kí hiệu T2).
+ 01 (một) tấm ván khuôn bằng kim loại bị mất trộm vào ngày 8/10/2022 kích thước (1x1,5) mét, nặng 48 kg. Trên tấm kim loại có một mặt nhẵn kích thước dày 3mm, một mặt được làm bằng các thanh kim loại với nhau, kích thước kim loại V5x5 dày 5mm, chia thành 6 ô. Tấm ván khuôn đã bị hoen rỉ (kí hiệu T3).
+ 01 (một) tấm ván khuôn bằng kim loại bị mất trộm vào 12 giờ ngày 9/10/2022 kích thước (1x1,5) mét, nặng 49 kg. Trên tấm kim loại có một mặt nhẵn kích thước dày 3mm, một mặt được làm bằng các thanh kim loại với nhau, kích thước kim loại V5x5 dày 5mm, chia thành 6 ô. Tấm ván khuôn đã bị hoen rỉ ( kí hiệu T4).
+ 01 (một) tấm ván khuôn bằng kim loại bị mất trộm vào 19h ngày 9/10/2022 kích thước (1x1,5) mét, nặng 52 kg. Trên tấm kim loại có một mặt nhẵn kích thước dày 3mm, một mặt được làm bằng các thanh kim loại với nhau, kích thước kim loại V5x5 dày 5mm, chia thành 6 ô. Tấm ván khuôn đã bị hoen rỉ ( kí hiệu T5).
+ 01 (một) tấm ván khuôn bằng kim loại bị mất trộm vào tối ngày 9/10/2022 kích thước (1x1,5) mét, nặng 60 kg. Trên tấm kim loại có một mặt nhẵn kích thước dày 3mm, một mặt được làm bằng các thanh kim loại với nhau, kích thước kim loại V5x5 dày 5mm, chia thành 6 ô. Tấm ván khuôn đã bị hoen rỉ ( kí hiệu T6).
+ 01 (một) tấm ván khuôn bằng kim loại bị mất trộm vào tối ngày 10/10/2022 kích thước (1x1,5) mét, nặng 54kg. Trên tấm kim loại có một mặt nhẵn kích thước dày 3mm, một mặt được làm bằng các thanh kim loại với nhau, kích thước kim loại V5x5 dày 5mm, chia thành 6 ô. Tấm ván khuôn đã bị hoen rỉ ( kí hiệu T7).
+ 01 (một) xe mô tô hãng Yamaha, nhãn hiệu Sirius, màu vàng đen, biển kiểm soát 73G1 – 073.., xe đã qua sử dụng.
Về trách nhiệm dân sự:
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Minh Hóa đã tiến hành trả toàn bộ tài sản đã tạm giữ cho bị hại công ty TNHH xây dựng tổng hợp T Ph, người đại diện theo ủy quyền là ông Ng V N không có yêu cầu về mặt dân sự.
Bà V Th Nh yêu cầu Đ X Ch, Đ Th Ng trả lại số tiền 2.210.000 đồng.
Cáo trạng số 07/CT-VKSNDMH ngày 01/3/2023 Viện kiểm sát nhân dân huyện Minh Hoá quyết định truy tố bị cáo Đ Th Ng, Đ X Ch về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên toà Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 điều 173; điểm s khoản 1 điều 51; điểm g khoản 1 điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Đ Th Ng từ 12 tháng đến 15 tháng tù.
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 điều 173; điểm s khoản 1 điều 51; điểm g khoản 1 điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Đ X Ch từ 15 tháng đến 18 tháng tù.
Căn cứ điều 48 bộ luật hình sự, điều 584, 589 bộ luật dân sự buộc các bị cáo bồi thường số tiền 2.210.000 đồng cho bà V Th Nh.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Minh Hóa, Viện kiểm sát huyện Minh Hóa, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Hành vi phạm tội: Lợi dụng sơ hở trong việc quản lý và bảo vệ tài sản của bị hại, Đ Th Ng và Đ X Ch đã có hành vi lén lút lấy trộm tài sản là 07 tấm ván khuôn bằng kim loại của công ty TNHH xây dựng và tổng hợp T Ph. Tài sản Ng và Ch chiếm đoạt có tổng giá trị tại thời điểm mất là 15.540.000 đồng.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội. Lời nhận tội đó phù hợp với lời khai của người bị hại và các chứng cứ, tài liệu thu thập trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa trên cơ sở xem xét toàn diện và đầy đủ chứng cứ về thời gian, địa điểm, loại tài sản, giá trị tài sản mà các bị cáo chiếm đoạt, ý kiến của Kiểm sát viên. Do đó đủ cơ sở để khẳng định bị cáo Đ Th Ng và Đ X Ch phạm tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 điều 173 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Hội đồng xét xử xét thấy hành vi của các bị cáo thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp chiếm đoạt tài sản của công ty TNHH xây dựng và tổng hợp T Ph, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ. Hành vi đó là nguy hiểm cho xã hội cần được xử lý nghiêm.
Các bị cáo phạm tội nhiều lần, vì vậy cần áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm g khoản 1 điều 52 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 để lên cho các bị cáo một mức án tương xứng với hành vi phạm tội mà các bị cáo gây ra.
Trong vụ án này, bị cáo Đ Th Ng và Đ X Ch đã tham gia tích cực hành vi phạm tội. Đối với Đ X Ch có 01 tiền sự nên phải chịu trách nhiệm chính trọng vụ án và việc cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian là cần thiết.
Tuy nhiên hội đồng xét xử cần xem xét cho các bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Vì vậy cần áp dụng điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
Vật chứng vụ án:
Sau khi xác định chủ sở hữu, ngày 23/11/2022, cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại tài sản gồm 07 tấm ván khuôn kim loại cho công ty TNHH xây dựng và tổng hợp T Ph. Ngày 02/02/2023 trả lại xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius màu vàng đen, biển kiểm soát 73G1- 073.. cho ông Đ Th H. Việc xử lý vật chứng của cơ quan cảnh sát điều tra đảm bảo theo quy định của bộ luật tố tụng hình sự.
Về trách nhiệm dân sự: Công ty TNHH xây dựng và tổng hợp T Ph đã nhận lại tài sản, người được ủy quyền ông Ng V N không yêu cầu gì về mặt dân sự.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà V Th Nh là người mua tài sản nhưng không biết tài sản do trộm cắp mà có nên yêu cầu các bị cáo bồi thường là có căn cứ. Vì vậy căn cứ điều 48 bộ luật hình sự, điều 584, 589 bộ luật dân sự buộc các bị cáo bồi thường số tiền 2.210.000 đồng cho bà Nh.
Trong vụ án này có Ph A T là người chở Đ Th Ng đi bán tài sản, tuy nhiên T không biết tài sản do Ng và Ch trộm cắp mà có.
Đối với bà V Th Nh là người trực tiếp mua tài sản 07 tấm ván khuôn kim loại, tuy nhiên bà Nh không biết số tài sản do Ng và Ch trộm cắp mà có.
Đối với ông Đ Th H là chủ phương tiện Ng sử dụng đi trộm cắp nhưng ông H không biết Ng mượn xe để đi trộm cắp nên Viện kiểm sát nhân dân huyện Minh Hóa không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với V Th Nh, Đ Th H, Ph A T là đúng pháp luật.
Án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Đ Th Ng, Đ X Ch phạm tội: “ Trộm cắp tài sản”
Căn cứ khoản 1 điều 173; điểm g khoản 1 điều 52; điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Đ Th Ng 12 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giam (ngày 18/11/2022).
Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày theo quyết định của Hội đồng xét xử.
Xử phạt bị cáo Đ X Ch 15 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giam (ngày 18/11/2022).
Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày theo quyết định của Hội đồng xét xử.
2. Trách nhiệm dân sự:
Áp dụng điều 48 bộ luật hình sự, điều 584, 589, 587 bộ luật dân sự buộc Đ Th Ng và Đ X Ch phải liên đới bồi thường cho bà V Th Nh số tiền 2.210.000 đồng theo phần Đ Th Ng là 1.105.000 đồng, Đ X Ch là 1.105.000 đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu Thi hành án đến khi thi hành án xong, hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu khoản lãi suất qui định tại khoản 2 điều 468 Bộ luật Dân sự tương ứng với thời gian chậm thi hành án.
Người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định của Luật Thi hành án dân sự.
3. Án phí: Bị cáo Đ Th Ng phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Bị cáo Đ X Ch phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm
Án xử công khai sơ thẩm có mặt các bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, vắng mặt người bị hại. Tuyên bố các bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (13/4/2023), người bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Quảng Bình; - Công an huyện Minh Hoá; - VKSND huyện Minh Hoá; - VKSND tỉnh Quảng Bình; - Chi cục THADS huyện Minh Hoá; - Các bị cáo; - Sở tư pháp tỉnh Quảng Bình; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA ( đã ký ) Nguyễn Minh Toàn |