vanban.org

Bản án 09/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Mèo Vạc, tỉnh Hà Giang Tuyên án 20/06/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn A phạm tội “Chống người thi hành công vụ”.

Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 330; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự 2015: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn A 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị giữ (ngày 10/3/2023). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn Ân - phạm tội chống người thi hành công vụ (điều 330 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn A phạm tội “Chống người thi hành công vụ”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN M
TỈNH HÀ GIANG
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 09/2023/HS-ST
Ngày 20/6/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN M, TỈNH HÀ GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Củng Trẩn Lương

Hội thẩm nhân dân: Ông Ngô Chí Cường, bà Nguyễn Thị Chanh

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thúy An – Thư ký Tòa án nhân dân huyện M.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Huyện M, tỉnh Hà Giang tham gia phiên tòa: Ông Vàng Mí Chứ - Kiểm sát viên.

Ngày 20/6/2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện M, tỉnh Hà Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 08/2023/TLST-HS ngày 17/5/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2023/QĐXXST-HS ngày 07/6/2023 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn A (tên gọi khác: Không); sinh năm: 1989, tại: Huyện M, tỉnh Hà Giang; Nơi cư trú: Thôn Đ, xã N, Huyện M, tỉnh Hà Giang; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 09/12; Dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Số CCCD: 002098001879, cấp ngày 16/10/2022, nơi cấp: Cục CSQLHC về TTXH; con ông: Nguyễn Thanh P, sinh năm 1957 và bà: Tô Thị R, sinh năm 1958; vợ: Hoàng Thị Hiện, sinh năm 1990; con: 04 con; Chức vụ, đoàn thể, đảng phái: Không.

Tiền án: Bị Tòa án nhân dân tỉnh Hà Giang tuyên phạt 06 (Sáu) tháng tù về tội “Hủy hoại tài sản” tại bản án số 15/2021/HS-PT ngày 27/7/2021;

Tiền sự: Ngày 17/11/2021 bị Công an huyện M ra Quyết định xử phạt VPHC số 00577 với số tiền 750.000 đồng về hành vi “say rượu, bia gây mất trật tự công cộng” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 5 Nghị định 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 quy định về xử phạt VPHC trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình. Ngày 24/4/2023 bị Công an huyện M ra Quyết định xử phạt VPHC số 00123 với hình thức cảnh cáo về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy quy định tại khoản 1 Điều 23 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2022 của Chính phủ quy định về xử phạt VPHC trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội, phòng, chống tệ nạn xã hội, phòng cháy, chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ, phòng, chống bạo lực gia đình.

Bị cáo bị bắt ngày 10/3/2023. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện M, tỉnh Hà Giang. Có mặt.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Lê Q, sinh năm 1990, địa chỉ: Thôn Đ, xã N, huyện M, tỉnh Hà Giang. Có mặt.

- Những người làm chứng: Lê Thành L, Nguyễn Thanh P, Tô Thị R (có mặt), Nguyễn Thị N, Nguyễn Văn Q1. Vắng mặt không có lí do.

- Người giám hộ cho Nguyễn Thị N: Nguyễn Thị Y, sinh năm 1987; địa chỉ: Thôn Đ, xã N, huyện M, tỉnh Hà Giang. Vắng mặt không có lí do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 07 giờ ngày 10/3/2023, ông Nguyễn Thanh P nói với Nguyễn Văn A (A là con trai và ở cùng nhà với ông P) về việc có người đến xem để mua máy xúc (vì ông P đang có ý định bán máy xúc của gia đình và trước đó người mua đã liên hệ trước với ông P), đồng thời ông P bảo A đi lái máy xúc về để ở trước cổng nhà để người mua đến xem. A đồng ý và đi ra lái máy xúc về để ở trước cổng rồi quay vào nhà. Lúc này, A nói với ông P là: “trong thời gian gần đây A thường xuyên bị đau nhức người”. Nghe vậy, ông P đi đến nhà chị Nguyễn Thị L (ở cùng thôn với A) lấy 01 chai rượu mang về để ở trên bàn rồi nói với A: “rượu thuốc đây uống ít thôi” nhưng A không nói gì mà đi từ giường ngủ của A ra ngồi ở bàn uống nước và một mình uống rượu.

Đến khoảng 08 giờ cùng ngày, thì có ba người đàn ông ở tỉnh Cao Bằng đến để xem, mua máy xúc nên ông P đưa ba người này đi xem máy xúc ở trước cổng nhà. Khoảng 20 phút sau, trong khi mọi người đang xem máy xúc thì A cũng từ nhà đi ra xem cùng mọi người. Được một lúc sau, ông P, A và ba người đàn ông quay vào trong nhà và ngồi ở bàn uống nước tiếp tục trao đổi về việc mua, bán máy xúc. Trong khi ông P cùng ba người đang ngồi nói chuyện thì A hỏi và xin ông P số tiền 10.000.000 đồng để đi sang thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng thăm vợ, con (trước đó, vợ và các con của A đã đi sang nhà bà ngoại chơi) nên ông P nói: “người đang đau đi làm gì, đợi đến cuối tuần con gái được nghỉ thì hai bố con cùng đi” nhưng A không nghe mà nói tiếp: “hẹn xe rồi đưa tiền để còn đi luôn”. Do thấy A đã say rượu, sợ A chửi bới lung tung nên ông P đứng dậy đi lên buồng ngủ của mình ở trên gác lấy tiền xuống đưa cho A. Sau đó, ông P tiếp tục ngồi nói chuyện cùng với ba người mua máy xúc, được một lúc sau thì ba người này đi về.

Sau khi có tiền, A đi bộ ra đường quốc lộ 4C (cách nhà ông P khoảng 500 mét) để đón xe khách đi thành phố Cao Bằng. Do đi bộ xa nên A đi vào nhà anh Sùng Mí M (cách nhà ông P khoảng 100 mét) để nhờ anh M lấy xe máy chở A ra đường quốc lộ 4C để đón xe khách. Lúc này, chỉ có vợ của anh Mỷ là chị Thò Thị G ở nhà nên A ngồi đợi. Tại đây, chị G đã rót ra hai ly rượu (loại ly thủy tinh) mời A uống, A vừa uống rượu vừa nói chuyện với chị G. Được khoảng 30 phút sau, A xin phép chị Già rồi đi bộ ra đường quốc lộ 4C để đón xe khách. Trên đường đi, A gặp anh Nguyễn Văn Q1 (là anh trai ruột của A) đang đi xe máy ngược chiều đến. Do trước đó ông P đã gọi điện nói cho Q1 biết việc A uống rượu say và lấy tiền của ông P để sang thành phố Cao Bằng nên ông P muốn Q1 đưa A về nhà. Khi gặp nhau, Q1 bảo A quay về nhưng A không nghe nên giữa A và Q1 xảy ra xô xát, vật lộn với nhau ở trên đường, do chỉ có A và Q1 nên Q1 đã thả A ra, sau đó A quay về nhà. Do sợ khi A quay về sẽ chửi bới, đập phá tài sản gia của đình nên Q1 đã gọi điện báo cho ông P và bảo ông P đóng cổng lại. Khi A về đến trước cổng thì thấy cổng đã bị khóa nên A dùng chân đạp mạnh vào cổng, đồng thời nói: “có mở cửa không, không tao đập phá rồi giết cả nhà bây giờ” nhưng vẫn không thấy ai mở cổng nên A tiếp tục nhặt đá ném vào trong sân. Thấy vậy, ông P nói từ trong nhà với A: “thôi con ơi, có gì bình tĩnh nói” nhưng A vẫn không nghe mà tiếp tục chửi bới và dùng chân đạp cổng. (lúc này ông P sợ A đập phá chiếc máy xúc đỗ ở cổng nên đã gọi điện cho Công an xã N để trình báo sự việc và đề nghị Công an xã đến giải quyết). Được khoảng 05 phút sau, A vẫn không thấy ai mở cổng nên tiếp tục dùng chân đạp mạnh vào cánh cổng và dùng tay giật mạnh cánh cổng làm cho chốt khóa của cánh cổng bung bật ra. Sau đó, A đi thẳng vào buồng ngủ của A lấy 01 (một) đoạn gậy gỗ có kích thước dài 70cm, đường kính 03cm ở dưới gầm giường ngủ rồi đi ra bàn uống nước vừa nói:“hôm nay tao phải đập hết cái nhà này, đốt sạch luôn”, vừa cầm đoạn gậy gỗ vụt mạnh vào mặt kính của bàn uống nước làm cho mặt kính bị vỡ thành nhiều mảnh, A tiếp tục dùng đoạn gậy gỗ vụt vào bộ ấm chén ở trên mặt bàn làm cho bộ ấm chén cũng bị vỡ. Tiếp đó, A đặt gậy xuống ghế (ghế băng) rồi dùng tay phải cầm phích nước để dưới gầm bàn vung lên rồi đập mạnh phích nước xuống mặt bàn làm cho lõi giữ nhiệt bên trong phích bị vỡ. Sau đó, A tiếp tục cầm đoạn gậy gỗ vừa đi lại ở dưới gần sàn vừa chửi bới. Khi thấy A đập phá tài sản nhưng sợ bị A đánh nên ông P và gia đình không ai dám vào can ngăn, ông P tiếp tục gọi điện báo cho Công an xã N về việc A đập phá tài sản của gia đình. Ngay sau khi tiếp nhận tin, Công an xã N đã thành lập tổ công tác gồm đồng chí Lê Thành L - Trưởng Công an xã và đồng chí Nguyễn Lê Q - Công an viên xã nhanh chóng đi đến nhà ông P để tiến hành giải quyết sự việc. Trên đường đi, L và Q gặp Q1 đang đi xe máy đến Công an xã để trình báo sự việc. Khi gặp nhau, qua trao đổi Q1 biết được L và Q đã tiếp nhận được thông tin vụ việc từ ông P và đang trên đường đến nhà ông P để giải quyết vụ việc, do vậy Q1 đã quay lại đi cùng L, Q đến nhà ông P.

Được khoảng 10 phút sau, L, Q, Q1 đi đến và dừng xe máy ở phía trước cổng nhà ông P (L, Q để xe máy ở phía bên phải cổng, Q1 để xe máy phía bên trái cổng, hai vị trí cách nhau khoảng 03m). Lúc này, A vẫn đang chửi bới và đi lại dưới gầm nhà sàn và trên tay cầm một đoạn gậy gỗ. Thấy vậy, L (L, Q đi ngang nhau, cách nhau khoảng 01mét, Q1 vẫn đứng ở gần vị trí để xe máy) nói với A: “A ơi, có gì từ từ bình tĩnh nói”. Nghe L nói vậy thì A cầm đoạn gậy gỗ liền đi về phía L, Q, Q1, A vừa đi, vừa nói: “sao thằng Q1 đánh tao chúng mày không bắt, cứ đòi bắt tao thế, thằng nào bước vào đây tao đập chết”. Khi L, Q đi đến gần cổng thì A cũng đi đến cách vị trí của Q khoảng 01 mét. Lúc này, A dùng hai tay cầm vào một đầu của đoạn gỗ vụt một phát theo hướng từ trên xuống dưới, từ phải qua trái về phía Q. Thấy vậy, Q dơ tay trái lên che phần đầu của Q, đồng thời nghiêng người sang bên phải để tránh thì trúng vào mạn sườn bên trái của Q, ngay lúc đó L, Q lao vào khống chế A. Thấy vậy, Q1 cũng lao vào để giúp giữ tay và đưa A vào gầm sàn để lập biên bản vụ viêc.

*Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật:

- 01 (một) gậy gỗ dài 37cm, đường kính 03 cm, trên phần đầu gậy gỗ có nhiều vết hằn lõm, trầy xước. Đã được niêm phong theo quy định.

Ngày 10/3/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện M đã phối hợp với Trạm y tế xã N, huyện M tiến hành xem xét dấu vết trên thân thể của Nguyễn Lê Q. Kết quả xem xét: Tại vùng lưng bên trái Nguyễn Lê Q có một vết bầm tím tại vùng lưng bên trái kích thước (17 x 03) cm, nằm dọc cung sườn tương ứng khoảng khoang liên sườn 9 - 10 (không xác định được tổn thương xương).

Ngày 12/3/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra huyện M, tỉnh Hà Giang ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự. Ngày 13/3/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M, tỉnh Hà Giang ra Quyết định khởi tố bị can đối với bị cáo Nguyễn Văn A về tội “Chống người thi hành công vụ” quy định tại khoản 1 Điều 330 Bộ luật hình sự.

Ngày 15/3/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện M ra Yêu cầu định giá tài sản số 02/YC-ĐCSHS-KTMT về việc yêu cầu: Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng huyện M, tỉnh Hà Giang định giá số tài sản gồm 01 tấm kính có kích thước 0,53m, dài 1,15m, dày 0,7cm; 01 ấm trà bằng sứ màu trắng bên ngoài có ghi dòng chữ CTYTNHH Anh Long, đt 0799.042.999, kèm 04 chén uống nước bằng sứ màu trắng; 01 phích màu da cam, kích thước 36cm, rộng 14cm, nhãn hiệu Viêt - Nhật do Nguyễn Văn A dùng gậy gỗ đập hỏng. Tại bản kết luận định giá tài sản số 02/KL-HĐĐGTS, ngày 24/3/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng huyện M xác định tổng giá trị tài sản tại thời điểm định giá là: 900.000 đồng.

Ngày 28/3/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M, tỉnh Hà Giang đã quyết định trưng cầu giám định số 14/QĐ-ĐCSHS-KTMT, trưng cầu Trung tâm giám định pháp y tỉnh Hà Giang, giám định: Tỷ lệ phần trăm (%) tổn thương cơ thể đối với phần mạn sường bên trái của Nguyễn Lê Q do Nguyễn Văn A dùng gậy gỗ vụt trúng. Tuy nhiên, do chỉ bị thương ở phần mềm nên ngày 29/3/2023, Nguyễn Lê Q đã có đơn từ chối giám định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể.

Tại bản Cáo trạng số 09/CT-VKSMV ngày 17/5/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện M, tỉnh Hà Giang truy tố bị cáo Nguyễn Văn A về tội “Chống người thi hành công vụ” theo quy định tại khoản 1 Điều 330 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân Huyện M, đề nghị Hội đồng xét xử:

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn A phạm tội “Chống người thi hành công vụ”.

Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 330; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự 2015 xử phạt bị cáo Nguyễn Văn A mức án từ 09 (chín) tháng đến 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị giữ (Ngày 10/3/2023).

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự đề nghị: Tịch thu tiêu hủy vật chứng là công cụ phạm tội gồm:

- 01 (một) gậy gỗ dài 37cm, đường kính 03 cm, trên phần đầu gậy gỗ có nhiều vết hằn lõm, trầy xước. Đã được niêm phong như biên bản giao nhận vật chứng ngày 17/5/2023 giữa Cơ quan CSĐT Công an huyện M và Chi cục THADS huyện M.

Về Án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016-UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Nguyễn Văn A.

Tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ mức án cho bị cáo.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Nguyễn Lê Q do chỉ bị thương ở phần mềm, không ảnh hưởng đến sức khỏe nên không đề nghị bị cáo Nguyễn Văn A phải bồi thường bất cứ khoản chi phí nào khác.

Đối với nguồn gốc số tài sản bị Nguyễn Văn A dùng gậy gỗ đập hủy hoại là tài sản chung của gia đình, ông P, bà R không yêu cầu bị cáo phải bồi thường.

Lời khai của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, những người làm chứng phù hợp với lời khai của bị cáo về hành vi phạm tội tại giai đoạn điều tra và tại phiên tòa hôm nay, cũng như các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Lời nói sau cùng: Bị cáo gửi lời xin lỗi tới người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, xin lỗi gia đình, bị cáo cảm thấy ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, mong HĐXX xem xét cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất để bị cáo sớm được trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Hà Giang, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện M, tỉnh Hà Giang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa không có ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa hôm nay vắng mặt những người làm chứng Nguyễn Văn Q1, Nguyễn Thị N, người giám hộ cho cháu Nguyễn Thị N là bà Nguyễn Thị Y. Xét thấy việc vắng mặt của những người làm chứng không ảnh hưởng đến việc làm sáng tỏ vụ án. Căn cứ vào Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự, HĐXX quyết định tiếp tục giải quyết vụ án.

Về tội danh: Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Văn A tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, lời khai của những người làm chứng và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Hồi 12 giờ 07 phút, ngày 10/3/2023, bị cáo biết rõ Lê Thành L là Trưởng công an xã N cùng với Nguyễn Lê Q là Công an viên xã N đến giải quyết việc bị cáo dùng gậy gỗ đập phá tài sản tại gia đình của ông Nguyễn Thanh P, khi Lê Thành L yêu cầu bị cáo dừng hành vi đập phá tài sản nhưng bị cáo không nghe, do đang bức xúc về việc vừa xảy ra xô sát với anh trai là Nguyễn Văn Q1 nên bị cáo đã một mình cầm theo một đoạn gậy gỗ đi đến vị trí L, Q đứng rồi dùng hai tay cầm vào một đầu của đoạn gỗ vụt một phát theo hướng từ trên xuống dưới, từ phải qua trái về phía Q và trúng vào mạn sườn bên trái của Q nhằm chống lại L, Q, người đến thi hành công vụ giải quyết vụ việc tại cổng nhà ông Nguyễn Thanh P (bố đẻ của bị cáo) ở thôn Đ, xã N, huyện M, tỉnh Hà Giang. Như vậy đã đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Văn A phạm tội “Chống người thi hành công vụ” theo quy định tại khoản 1 Điều 330 của Bộ luật hình sự.

Tại khoản 1 Điều 330 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017):

“1. Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc dùng thủ đoạn khác cản trở người thi hành công vụ thực hiện công vụ của họ hoặc ép buộc họ thực hiện hành vi trái pháp luật, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.”

Viện kiểm sát nhân dân huyện M, tỉnh Hà Giang truy tố bị cáo Nguyễn Văn A về tội “Chống người thi hành công vụ” theo quy định tại khoản 1 Điều 330 của Bộ luật hình sự là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Về tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội là nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo biết rõ hành vi của mình là trái với quy định của pháp luật, bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý, hành vi phạm tội của bị cáo đã trực tiếp xâm hại xâm phạm đến việc thực hiện nhiệm vụ của những người thi hành công vụ và thông qua đó xâm phạm đến hoạt động quản lý xã hội nói chung và hoạt động quản lý hành chính nói riêng của Nhà nước. Hành vi phạm tội của bị cáo tuy gây nguy hại không lớn cho xã hội nhưng đã gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự, an toàn xã hội, tạo dư luận xấu trong nhân dân trên địa bàn xã N nói riêng và trên địa bàn huyện M nói chung. Do vậy, HĐXX cần áp dụng một mức án nghiêm tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo.

Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay bị cáo Nguyễn Văn A đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi của mình; bị cáo là người dA tộc thiểu số, cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, bố đẻ của của bị cáo là ông Nguyễn Thanh P được Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tặng thưởng “Huân Chương Chiến Sỹ Vẻ Vang Hạng Ba” nên cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 đối với bị cáo Nguyễn Văn A để bị cáo thấy được chính sách khoan hồng của pháp luật.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo bị Tòa án nhân dân tỉnh Hà Giang tuyên phạt 06 (Sáu) tháng tù về tội “Hủy hoại tài sản” tại bản án 15/2021/HS-PT ngày 27/7/2021, đến nay chưa được xóa án tích nên cần áp dụng tình tiết tăng nặng theo quy định tại h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự, tình tiết “Tái phạm”.

Xét về nhân thân: Bị cáo có tiền án, tiền sự, nhân thân xấu.

Căn cứ vào tính chất, mức độ, hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng, nhân thân của bị cáo HĐXX xét thấy cần phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định, thì mới có tác dụng cải tạo và giáo dục bị cáo trở thành công dân biết sống, làm việc theo hiến pháp và pháp luật. Đồng thời nhằm răn đe và phòng ngừa tội phạm chung.

Biện pháp tư pháp: Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.

Về trách nhiệm dân sự: Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Lê Q không đề nghị bị cáo phải bồi thường bất cứ khoản chi phí nào. Đối với nguồn gốc số tài sản bị cáo A dùng gậy gỗ đập hư hỏng là tài sản chung của gia đình, nguồn gốc số tài sản bị hư hỏng là do bị cáo đưa tiền đi làm thuê mà có cho bố mẹ mua sắm. Tại phiên tòa ông P, bà R không yêu cầu bị cáo phải bồi thường. Nên HĐXX không đề cập xem xét.

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của bị cáo Cơ quan CSĐT Công an huyện M đã ra Quyết định xử lý vi phạm hành chính số 00123/QĐ-XPHC ngày 24/4/2023 bằng hình thức Cảnh cáo là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 23 Nghị định số 144/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng chống tệ nạn xã hội; phòng cháy, chữa cháy; cứu nạn, cứu hộ; phòng chống bạo lực gia đình là phù hợp với quy định của pháp luật nên HĐXX không đề cập xem xét.

Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho bị cáo ở thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng do bị cáo không biết họ tên, địa chỉ của người này nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để tiến hành các biện pháp điều tra, xử lý theo quy định của pháp luật. Nên HĐXX không đề cập xem xét.

Đối với việc Nguyễn Văn Q1 và bị cáo A xảy ra xô xát, vật lộn với nhau tại đoạn đường đi vào nhà ông P: Do cả hai người chỉ bị xây xước ngoài da, bản thân bị cáo và anh Q1 là anh em ruột trong gia đình. Quá trình điều tra bị cáo và anh Q1 cũng không có đề nghị gì về việc này, nên HĐXX không đề cập xem xét.

Xử lí vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy vật chứng là công cụ phạm tội gồm:

- 01 (một) gậy gỗ dài 37cm, đường kính 03 cm, trên phần đầu gậy gỗ có nhiều vết hằn lõm, trầy xước.

Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 12; Điều 14 Nghị quyết số 326/2016-UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Nguyễn Văn A.

Quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tội danh:

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn A phạm tội “Chống người thi hành công vụ”.

2. Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 330; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự 2015:

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn A 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị giữ (ngày 10/3/2023).

Áp dụng khoản 1 Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án. Thời hạn tạm giam là 45 ngày kể từ ngày tuyên án.

3. Vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy:

- 01 (một) gậy gỗ dài 37cm, đường kính 03 cm, trên phần đầu gậy gỗ có nhiều vết hằn lõm, trầy xước.

Vì đây là công vụ phạm tội, không còn giá trị sử dụng.

(Đặc điểm chi tiết của vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng ngày 17/5/2023 giữa cơ quan CSĐT Công an huyện M, tỉnh Hà Giang và Chi cục Thi hành án dA sự huyện M, tỉnh Hà Giang).

4. Án phí: Áp dụng Điều 135; Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 12; Điều 14 Nghị quyết số 326/2016-UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Nguyễn Văn A.

Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 332, 333 BLTTHS: Án xử công khai, có mặt bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan. Báo cho bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan biết có quyền kháng cáo những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (20/6/2023)./.

Cỡ chữ