- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vận chuyển hàng cấm - phạm tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm (điều 191 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Văn M phạm tội “ Vận chuyển hàng cấm”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG RIỀNG TỈNH KIÊN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 09/2023/HS - ST Ngày 23/3/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG RIỀNG, TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Chuyên
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Hà Bửu Khánh
Ông Huỳnh Hoàng Nam
- Thư ký phiên toà: Bà Võ Thị Mỹ Nhan là Thư ký Toà án nhân dân huyện
Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Riềng tham gia phiên tòa:
Ông Nguyễn Hoài Khanh – Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 3 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Giồng Riềng,
tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số:
10/2023/TLST-HS ngày 23 tháng 2 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử
số: 06/2023/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 3 năm 2023 đối với bị cáo:
1. Trần Văn M, sinh năm: 1979; tại huyện H, tỉnh B; Nơi cư trú: Tổ 5, ấp C ,
xã Đ, huyện Kơng, tỉnh G; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 3/12; Dân tộc:
Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Văn L
và bà Trần Thị N ; Có vợ tên Nguyễn Thị Đ ; Con 02 đứa (lớn nhất sinh năm 2013,
nhỏ nhất sinh năm 2017); Tiền án, tiền sự: Chưa; Bị bắt tạm giữ ngày 15/12/2022,
đến ngày 13/01/2023 thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến
nay.
Bị cáo tại ngoại có mặt
2. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Văn X , sinh năm: 1988; địa chỉ: Tổ 5, ấp C , xã H, huyện K, tỉnh G (có mặt)
3.Người bào chữa cho bị cáo: Ông Bùi Đức Độ - Trợ giúp viên của trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Kiên Giang (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Vào lúc 02 giờ ngày 15 tháng 12 năm 2022 lực lượng Công an huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Trần Văn M về hành vi vận chuyển 1000 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu Hero và 800 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu Jet trên xe mô tô biển đăng ký số 68K5-2728 khi M đang lưu thông trên tỉnh lộ 963 thuộc ấp N, xã C, huyện G, tỉnh G.
Quá trình điều tra xác định ngày 14/12/2022, Trần Văn M thông qua điện thoại nhận vận chuyển thuê thuốc lá điếu nhập lậu cho một thanh niên không rõ nhân thân, lai lịch đi từ thành phố H, tỉnh G về giao lại cho một đối tượng khác (chưa xác định được nhân thân, lai lịch) ở thành phố V, tỉnh H với giá 800.000 đồng bằng phương tiện xe mô tô hai bánh. Theo thỏa thuận khoảng 20 giờ cùng ngày M điều khiển xe mô tô biển đăng ký số 68K5 -2728 của M đến khu vực phường D, thành phố H nhận thuốc lá điếu nhập lậu để dưới lề đường gồm 02 giỏ xách đan bằng nhựa loại lớn, 01 bao nylon, 01 thùng xốp và 01 bịch nylon bên trong có tất cả 1800 bao thuốc lá điếu nhập lậu gồm 1000 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu Hero và 800 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu Jet rồi xuất phát đi từ thành phố H, tỉnh G. Khi đến khu vực huyện R, M điều khiển phương tiện đi tỉnh lộ 963 hướng về thành phố V, tỉnh H đến đoạn thuộc ấp N, xã C, huyện G, tỉnh G thì bị lực lượng Công an phát hiện bắt giữ cùng với tang vật và phương tiện
Về vật chứng của vụ án:
- 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave RSX màu đỏ đen, biển đăng ký số 68K5-2728, số khung RLHJC4323BY316822, số máy JC43E-6253565, đã qua sử dụng.
- 1800 bao thuốc lá điếu nhập lậu gồm: 1000 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu Hero và 800 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu Jet.
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Philips màu đen, số IMEI 1: 865832029114857, cùng một sim số 0944377442. Điện thoại đã qua sử dụng không kiểm tra tình trạng hoạt động.
- 01 dây ràng màu xanh quai đen có đàn hồi, hai đầu có 02 móc
- 01 đoạn cây gỗ cạnh vuông kích thước 05 x 3.3 cm, dài 88,7 cm, hai đầu có đóng 02 cây đinh, đã qua sử dụng để treo giỏ xách.
Tại bản cáo trạng số 11/CT-VKS ngày 20/2/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Riềng đã truy tố bị cáo Trần Văn M về tội “Vận chuyển hàng cấm” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 191 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Trần Văn M về tội “Vận chuyển hàng cấm”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b kho¶n 1 Điều 191, điểm i,s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 cña Bộ luật hình sự;
Xử phạt bị cáo Trần Văn M từ 09 tháng đến 12 tháng tù.
Về hình phạt bổ sung: Do hoàn cảnh gia đình bị cáo thuộc hộ cận nghèo nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Về vật chứng của vụ án: Đề nghị tịch thu sung quỹ Nhà nước gồm: Một điện thoại di động nhãn hiệu Philips màu đen, số IMEI 1: 865832029114857, cùng một sim số 0944377442, điện thoại đã qua sử dụng không kiểm tra tình trạng hoạt động; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave RSX màu đỏ đen, biển đăng ký số 68K5-2728, số khung RLHJC4323BY316822, số máy JC43E-6253565, đã qua sử dụng.
Tịch thu tiêu hủy: 1800 bao thuốc lá điếu nhập lậu gồm: 1000 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu Hero và 800 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu Jet; 01 đoạn cây gỗ cạnh vuông kích thước 05 x 3.3 cm, dài 88,7 cm, hai đầu có đóng 02 cây đinh, đã qua sử dụng để treo giỏ xách; 01 dây ràng màu xanh quai đen có đàn hồi, hai đầu có 02 mốc.
Lời bào chữa của trợ giúp viên: Thống nhất với tội danh mà Viện Kiểm sát đã truy tố đối với bị cáo tội “Vận chuyển hàng cấm”, thống nhất một phần đề nghị của đại diện Viện kiểm sát. Nguyên nhân động cơ phạm tội của bị cáo là do hoàn cảnh gia đình nghèo, vợ bị bệnh tật không lao động được, bị cáo là lao động chính trong gia đình, hoàn cảnh khó khăn nên có hành vi vận chuyển hàng cấm để lấy tiền nuôi gia đình. Thống nhất các tình tiết giảm nhẹ mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị như: thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, mới phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng theo quy định tại điểm i,s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Ngoài ra, cũng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét thêm một tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo là gia đình bị cáo có công với cách mạng (liệt sĩ) có nhân thân tốt; bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ nêu trên nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự, cho bị cáo được hưởng treo với mức án nhẹ nhất để bị cáo sửa chữa lỗi lầm gây ra. Về xử lý vật chứng; đề nghị trả lại cho anh Nguyễn Văn X một xe môtô, đây là tài sản của anh X cho bị cáo mượn để đưa đón con đi học. Về án phí: Bị cáo thuộc hộ cận nghèo nên đề nghị miễn án phí hình sự theo quy định của pháp luật.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra Công an huyện Giồng Riềng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Riềng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi của bị cáo:
Tại phiên tòa Trần Văn M khai nhận: Vào lúc 02 giờ ngày 15/12/2022, bị cáo bị lực lượng Công an huyện G, tỉnh G bắt quả tang dùng xe mô tô biển đăng ký 68K5-2728 chở 1800 bao thuốc lá điếu là hàng nhập lậu gồm: 1000 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu Hero và 800 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu Jet đi trên tỉnh lộ 963 thuộc ấp N, xã C, huyện G, tỉnh G.
Qua lời trình bày trên của bị cáo cho thấy đã phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án mà cơ quan điều tra đã thu thập được. Do đó, có đủ cơ sở kết luận bị cáo phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”. Việc Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Riềng truy tố bị cáo Trần Văn M về tội “Vận chuyển hàng cấm” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 191 của Bộ luật hình sự là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp, xâm phạm trực tiếp đến trật tự quản lý kinh tế Nhà nước, ảnh hưởng xấu đến tình hình chung của xã hội, gây hoang mang trong nhân dân. Xét lời đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát có căn cứ. Tuy nhiên, cũng phải xem xét đến mục đích, động cơ phạm tội để lượng hình đối với bị cáo.
Xét đề nghị của trợ giúp viên bào chữa cho bị cáo là có cơ sở, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên Hội đồng xét xử sẽ xem xét khi quyết định hình phạt cho bị cáo.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng
- Về tình tiết giảm nhẹ trong suốt quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay bị cáo tỏ thái độ thành khẩn khai báo, thể hiện sự ăn năn hối cải, mới phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, gia đình có công với cách mạng. Xét đến hoàn cảnh của gia đình bị cáo thuộc hộ cận nghèo có giấy chứng nhận. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i,s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Do đó, áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự cho bị cáo được hưởng án treo. Giao bị cáo cho chính quyền địa phương quản lý giám sát trong thời gian chấp hành hình phạt là đủ nghiêm.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự:
Đối với chiếc xe mô tô biển kiểm soát số 68K5-2728 là của anh Nguyễn Văn X , anh X xác định do bị cáo không có xe nên cho mượn để đưa rước con đi học, chưa chuyển giao quyền sở hữu cho bị cáo, anh X cũng không biết bị cáo dùng phương tiện để phạm tội. Xét thấy đây là tài sản của anh X, bị cáo dùng xe để chở hàng cấm nhưng anh X không biết trước. Vì vậy, sau khi nghị án Hội đồng xét xử thống nhất trả lại chiếc xe trên cho anh Nguyễn Văn X.
Đối với chiếc điện thoại di động bị cáo dùng làm phương tiện liên lạc chở hàng cấm nên tịch thu sung quỹ Nhà nước.
Tịch thu tiêu hủy đối với vật chứng gồm: 1800 bao thuốc lá điếu là hàng nhập lậu gồm: 1000 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu Hero và 800 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu Jet; 01 đoạn cây gỗ cạnh vuông kích thước 05 x 3.3 cm, dài 88,7 cm, hai đầu có đóng 02 cây đinh, đã qua sử dụng để treo giỏ xách; 01 dây ràng màu xanh quai đen có đàn hồi, hai đầu có 02 móc.
Về hình phạt bổ sung: Thống nhất lời đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát, do hoàn cảnh gia đình bị cáo thuộc hộ cận nghèo, gặp khó khăn về kinh tế nên miễn cho bị cáo.
Về án phí: Bị cáo Trần Văn M phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng. Bị cáo thuộc đối tượng hộ cận nghèo nên miễn án phí cho bị cáo.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 191, điểm i,s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 47, Điều 65 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106, khoản 02 Điều 136 của Bộ luật tố tụng Hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1. Tuyên bố bị cáo Trần Văn M phạm tội “ Vận chuyển hàng cấm”.
Xử phạt bị cáo Trần Văn M 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 18 (mười tám) tháng. Thời điểm chấp hành hình phạt được tính kể từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo M cho Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện K, tỉnh G giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục người đó.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Trường hợp thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 93 của Luật thi hành án.
2.Về hình phạt bổ sung: M cho bị cáo
3. Xử lý vật chứng: Tuyên tịch thu sung quỹ Nhà nước gồm một điện thoại di động nhãn hiệu Philips màu đen, số IMEI 1: 865832029114857, cùng một sim số 0944377442. Điện thoại đã qua sử dụng không kiểm tra tình trạng hoạt động.
Tuyên trả lại cho anh Nguyễn Văn X một xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave RSX màu đỏ đen, biển đăng ký số 68K5-2728, số khung RLHJC4323BY316822, số máy JC43E-6253565, đã qua sử dụng.
Tịch thu tiêu hủy: 1800 bao thuốc lá điếu nhập lậu gồm: 1000 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu Hero và 800 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu Jet; 01 đoạn cây gỗ cạnh vuông kích thước 05 x 3.3 cm, dài 88,7 cm, hai đầu có đóng 02 cây đinh, đã qua sử dụng để treo giỏ xách; 01 dây ràng màu xanh quai đen có đàn hồi, hai đầu có 02 móc.
4. Về án phí: M án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Trần Văn M
Quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn là 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (23/3/2023).
| Nơi nhận: - TAND tỉnh; - VKSND huyện ; - Trại tạm giam; - Cơ quan điều tra; - CQ Thi hành án dân sự huyện; - Bị cáo; - Người bị hại; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký và đóng dấu) Nguyễn Thị Chuyên |