vanban.org

Bản án 09/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Vân A, xử cho chị Nguyễn Thị Vân A được ly hôn với anh Trần Công C.

Về quan hệ con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị Vân được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung là Trần Minh Qu, sinh ngày 16 tháng 3 năm 2022. Anh Trần Công C có nghĩa vụ đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 2.500.000 đồng (Hai triệu năm trăm nghìn đồng) kể từ tháng 4/2023 cho đến khi c… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trần Thị Vân A ly hôn anh Nguyễn Công C"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Vân A, xử cho chị Nguyễn Thị Vân A được ly hôn với anh Trần Công C.
  • Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ BA ĐỒN
TỈNH QUẢNG BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 09/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 07 - 8 - 2023
“V/v tranh chấp Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BA ĐỒN, TỈNH QUẢNG BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Dương

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Thanh Dương và ông Hoàng Thanh Diện

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Như Bình - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình

Ngày 07 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 05/2023/TLST - HNGĐ ngày 24 tháng 02 năm 2023 về tranh chấp Ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 07/2023/QĐXXST - HNGĐ ngày 22 tháng 3 năm 2023, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Vân A, sinh năm: 1996

Nơi cư trú: Tổ dân phố Đơn S, phường Quảng P, thị xã Ba Đ, tỉnh Quảng Bình. Có mặt.

2. Bị đơn: Anh Trần Công C, sinh năm: 1994

Nơi cư trú: Tổ dân phố Ngoại H phường Quảng T, thị xã Ba n, tỉnh Quảng Bình. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 21 tháng 01 năm 2023, bản tự khai, tại phiên toà, nguyên đơn, chị Nguyễn Thị Vân A trình bày: Chị và anh Trần Công C tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Quảng P, thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình vào ngày 20 tháng 8 năm 2021. Quá trình chung sống, chị và anh Chức thường xuyên xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh Chức không quan tâm, chăm sóc gì đến gia đình và vợ con, thậm chí còn thường xuyên đánh đập chị. Mẹ chồng và chị chồng thường xuyên chửi bới chị. Tình trạng này kéo dài khiến chị không thể chịu đựng được. Chị và anh Chức đã sống ly thân từ ngày 29/12/2022 cho đến nay. Trong thời gian ly thân, không ai hỏi han, quan tâm gì đến ai. Nay tình cảm của chị đối với anh Chức không còn nên nguyên vọng xin được ly hôn với anh Chức để cả hai sớm ổn định được cuộc sống của bản thân.

Quá trình chung sống chị và anh C có 01 con chung là Trần Minh Q, sinh ngày 16 tháng 3 năm 2022, hiện nay đang ở với anh Chức. Sau ly hôn, chị có nguyện vọng tiếp tục được chăm sóc, nuôi dưỡng con chung và yêu cầu anh Chức đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 3.500.000 đồng cho đến khi con chung tròn 18 tuổi.

Về tài sản chung: Không có, vợ chồng chị không vay nợ của ai và không ai nợ vợ chồng chị. Vì vậy, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong bản tự khai, tại các phiên hòa giải và tại phiên toà, bị đơn, anh Trần Công Chức trình bày: Về quá trình tìm hiểu và đi đến hôn nhân giữa anh và chị Anh cũng như quan hệ con cái, thời gian chung sống và vấn đề tài sản chung của vợ chồng, cơ bản anh thống nhất với ý kiến trình bày của chị Anh. Tuy nhiên, anh không đồng ý với mâu thuẫn vợ chồng mà chị Anh trình bày. Trong quá trình chung sống, vợ chồng anh chị cũng có xảy ra mâu thuẫn nhưng chưa đến mức trầm trọng và việc mâu thuẫn của vợ chồng anh chị không có liên quan gì đến gia đình nhà chồng. Việc vợ chồng anh chị sống ly thân là do chị Anh đồng ý để con lại cho anh nuôi và tự ý bỏ về nhà bố mẹ đẻ. Nay chị Anh xin ly hôn với anh thì anh không đồng ý. Về con chung, anh không đồng ý giao con cho chị Anh trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng mà anh có nguyện vọng sau khi ly hôn được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu chị Anh phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, căn cứ vào kết quả hỏi tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Chị Nguyễn Thị Vân A có đơn yêu cầu xin ly hôn với anh Trần Công C; anh Chức có nơi cư trú tại tổ dân phố Ngoại Hải, phường Quảng T, thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình. Vì vậy, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Ba Đồn.

Về quan hệ hôn nhân:

Chị Nguyễn Thị Vân A và anh Trần Công C kết hôn trên tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Quảng P, thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình vào ngày 20 tháng 8 năm 2021 nên đây là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, anh chị sống với nhau được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Theo chị Anh trình bày, nguyên nhân khiến anh chị thường xuyên xảy ra mâu thuẫn là do anh Chức không quan tâm, chăm sóc gì đến gia đình và vợ con, thậm chí còn thường xuyên đánh đập chị Anh. Mẹ chồng và chị chồng thường xuyên chửi bới chị Anh. Do quá áp lực và căng thẳng nên ngày 29/12/2022, chị Anh đã về nhà bố mẹ đẻ sinh sống và vợ chồng anh chị cũng sống ly thân từ thời gian đó cho đến nay. Tuy nhiên, anh Chức lại cho rằng vợ chồng anh chị cũng có xảy ra mâu thuẫn nhưng chưa đến mức trầm trọng và việc mâu thuẫn của vợ chồng anh chị không có liên quan gì đến gia đình nhà chồng. Chị Anh đồng ý để con lại cho anh nuôi và tự ý bỏ về nhà bố mẹ đẻ.

Theo trình bày của chị Anh, trong khoảng thời gian sống ly thân, anh C và chị không ai quan tâm hay hỏi han gì đến nhau, phía anh Chức cũng không có biện pháp gì để cải thiện tình cảm vợ chồng. Quá trình giải quyết vụ án, chị Anh kiên quyết xin được ly hôn với anh Chức.

Xét thấy, mâu thuẫn giữa chị Anh và anh Chức là trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Vân A, áp dụng khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, xử cho chị Nguyễn Thị Vân A được ly hôn với anh Trần Công Chức là phù hợp.

Về quan hệ con chung:

Trong quá trình chung sống, chị Nguyễn Thị Vân A và anh Trần Công C có 01 con chung, tên là Trần Minh Quân, sinh ngày 16 tháng 3 năm 2022. Xét thấy, từ khi vợ chồng sống ly thân, mặc dù cháu Quân ở với anh Chức nhưng hiện tại cháu Q chỉ mới được hơn 1 tuổi (12 tháng 22 ngày tuổi) và chị Anh cũng có nguyện vọng được trực tiếp, chăm sóc nuôi dưỡng cháu Quân. Vì vậy, xét nguyện vọng của chị Anh được trực tiếp, chăm sóc nuôi dưỡng con chung là hoàn toàn phù hợp. Hội đồng xét xử áp dụng khoản 3 Điều 81, các Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình giao con cho chị Anh trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, buộc anh Chức có nghĩa vụ đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con cùng chị Anh mỗi tháng 2.500.000 đồng, kể từ tháng 4/2023 cho đến khi con đủ 18 tuổi là phù hợp.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Về quan hệ tài sản chung:

Quá trình giải quyết vụ án chị Nguyễn Thị Vân Anh và anh Trần Công Chức đều thừa nhận vợ chồng không có tài sản chung, không vay nợ gì của ai cũng như không cho ai vay nợ, đồng thời không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí:

Chị Nguyễn Thị Vân Anh và anh Trần Công Chức phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, khoản 3 Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Vân A, xử cho chị Nguyễn Thị Vân A được ly hôn với anh Trần Công C.

2. Về quan hệ con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị Vân được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung là Trần Minh Qu, sinh ngày 16 tháng 3 năm 2022. Anh Trần Công C có nghĩa vụ đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 2.500.000 đồng (Hai triệu năm trăm nghìn đồng) kể từ tháng 4/2023 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về quan hệ tài sản chung: Không xem xét.

4. Về án phí sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Vân A phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm để sung vào công quỹ Nhà nước nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) mà chị đã nộp trước đây tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Ba Đồn theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003544 ngày 24 tháng 02 năm 2023. Chị Anh đã nộp đủ tiền án phí.

Anh Trần Công C phải chịu 300.000 đồng tiền án phí cấp dưỡng nuôi con theo định kỳ để sung vào công quỹ Nhà nước.

5. Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị Vân Anh và anh Trần Công Chức được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Cỡ chữ