- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con"
- Tòa quyết gì? Điểm a khoản 1 Điều 24; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ KONTUM TỈNH KONTUM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 09/2023/HNGĐ-ST. Ngày: 17/03/2023. V/v “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ KONTUM, TỈNH KONTUM
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Vũ Thị Hồng Dung.
Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Bà Chế Thị Mai.
2/ Bà Nguyễn Thị Sương.
Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Trần Thị Ngọc Thương – Thư ký Toà án nhân dân thành phố KonTum, Tỉnh KonTum .
Viện kiểm sát tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hồng Dũng – Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Kon Tum.
Ngày 17/03/2023, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Kon Tum - tỉnh Kon Tum, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 425/2022/TLST-HNGĐ ngày 22-12-2022, về việc: "Ly hôn, tranh chấp nuôi con”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 16/02/2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Trần Nhật H, sinh năm 1993; Có mặt.
- Bị đơn: Anh Võ Thành H1, sinh năm 1993; Vắng mặt.
Cùng địa chỉ: Số N, đường N, phường T, thành phố K, tỉnh Kon Tum.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai tại phiên tòa thì chị Trần Nhật H trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Võ Thành H1 chung sống với nhau có tìm hiểu và tự nguyện kết hôn, việc kết hôn tại Uỷ ban nhân dân phường Q, thành phố K, tỉnh Kon Tum vào ngày 26/11/2018. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn trầm trọng. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng sống không hợp nhau, thường xuyên xảy ra cãi vã, anh H1 hay đi chơi bời, không lo làm ăn, không chăm lo cho gia đình. Vợ, chồng chị đã không còn chung sống với nhau gần nửa năm, bỏ mặc nhau ai sống ra sao thì sống, việc ai người ấy làm. Chị H xác định tình cảm vợ, chồng không còn nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Võ Thành H1.
Về con chung: Vợ, chồng chị có 01 con chung là Võ Bảo N, sinh ngày 22/09/2019. Khi ly hôn chị Trần Nhật H có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung, không yêu cầu anh Võ Thành H1 cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết.
Bị đơn: Anh Võ Thành H1 đã được Tòa án thông báo, triệu hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng anh H1 không tham gia tố tụng, đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không có lý do.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Kon Tum phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án như sau:
- Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký Tòa án đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự;
- Những người tham gia tố tụng: Nguyên đơn thực hiện tốt các quyền, nghĩa vụ của đương sự theo quy định của pháp luật; Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa bị đơn anh Võ Thành H1 đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt tại phiên tòa nên đề nghị xét xử vắng mặt anh H1.
- Về nội dung vụ án: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị H. Chị H được ly hôn với anh H1. Vì hôn nhân đã lâm vào tình trạng mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Về con chung: Giao con chung cho chị Trần Nhật H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục, anh Võ Thành H1 không phải cấp dưỡng nuôi con. Anh Võ Thành H1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở và không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung; Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết nên không xem xét giải quyết; Án phí dân sự sơ thẩm chị H phải chịu.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 và điểm a khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự. HĐXX xét thấy, bị đơn có nơi cư trú tại thành phố Kon Tum nên nguyên đơn yêu cầu Tòa án thành phố Kon Tum giải quyết là đúng quy định của pháp luật; bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai tham gia phiên tòa mà vẫn vắng mặt không có lý do nên xét xử vắng mặt bị đơn như đại diện VKS đề nghị là đúng pháp luật cần chấp nhận.
Về nôi dung vụ án:
- Quan hệ hôn nhân: Chị Trần Nhật H và anh Võ Thành H1 chung sống với nhau có đăng ký kết hôn, việc kết hôn là tự nguyện, được xác định là hôn nhân hợp pháp.
- Xét nguyên nhân mâu thuẫn: Từ khi kết hôn anh, chị thường xuyên xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng sống không hợp nhau, thường xuyên xảy ra cãi vã, anh H1 hay đi chơi bời, không lo làm ăn, không chăm lo cho gia đình, không khí gia đình ngày một căng thẳng, không ai hỏi nói với ai; vợ, chồng không còn chung sống với nhau. Anh H1 đã ký đơn thuận tình ly hôn với chị H nhưng đã đi làm ăn xa, không về tham gia tố tụng tại Tòa án (BL 40). Hội đồng xét xử xét thấy, mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Trần Nhật H và anh Võ Thành H1 đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 19, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình cần chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của chị Trần Nhật H là có căn cứ và đúng pháp luật. Chị H được ly hôn với anh Võ Thành H1.
Về con chung: Từ khi anh H1 đi làm ăn, chị Trần Nhật H là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung, anh H1 không cấp dưỡng nuôi con nhưng chị H vẫn nuôi con tốt. Do đó, yêu cầu của chị H được nuôi con chung và không yêu cầu anh H1 phải cấp dưỡng nuôi con là phù hợp cần chấp nhận. Giao con chung là cháu Võ Bảo N, sinh ngày 22/9/2019 cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi cháu N đủ 18 tuổi; anh Võ Thành H1 không phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con. Anh H1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở và không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.
Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự không yêu cầu giải quyết nên HĐXX không xem xét giải quyết.
Về án phí dân sự sơ thẩm (Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm) là: 300.000 đồng, chị Trần Nhật H phải chịu.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 và điểm a khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự;
- Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, 81, 82 và 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Điểm a khoản 1 Điều 24; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Xử:
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện đề ngày 22/12/2022 về: "Ly hôn, tranh chấp nuôi con" của nguyên đơn chị Trần Nhật H.
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Nhật H được ly hôn anh Võ Thành H1.
2. Về con chung: Giao con chung là Võ Bảo N, sinh ngày 22/9/2019 cho chị Trần Nhật H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi cháu N đủ 18 tuổi, anh Võ Thành H1 không phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con.
Anh Võ Thành H1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở và không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.
3. Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu giải quyết nên không xem xét giải quyết.
4. Về án phí dân sự sơ thẩm (Hôn nhân gia đình sơ thẩm) là: 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) chị Trần Nhật H phải chịu, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị H đã nộp theo biên lai số 0001143 ngày 22/12/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Kon Tum, tỉnh KonTum. Chị H đã nộp đủ tiền án phí.
Quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 17 tháng 03 năm 2023), nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án theo trình tự phúc thẩm. Đối với bị đơn vắng mặt tại phiên tòa thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.
| Nơi nhận: - TAND Tỉnh KonTum; - VKSND TP KonTum; - Chi cục THA dân sự TP KonTum; - Các đương sự; - UBND nơi thực hiện việc ĐKKH; - Lưu hồ sơ vụ | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà (Đã ký) Vũ Thị Hồng Dung |