vanban.org

Bản án 09/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận đơn yêu cầu khởi kiện về việc “Ly hôn, nuôi con chung” của bà Phạm Thị Tr đối với ông Võ Văn D.

Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Phạm Thị Tr được ly hôn ông Võ Văn D( Giấy chứng nhận kết hôn số 79 ngày 24/10/2005, quyển số 01 của UBND phường Hòa Quý, quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng không còn hiệu lực). Về quan hệ con chung: Giao 03 chung gồm: Võ Phạm Hoài N, sinh ngày 23/11/2005; Võ Phạm Nhật … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn , nuôi con chung"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn yêu cầu khởi kiện về việc “Ly hôn, nuôi con chung” của bà Phạm Thị Tr đối với ông Võ Văn D.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN NGŨ HÀNG SƠN
TP. ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 09 /2023/HNGĐ-ST
Ngày: 30 /5 /2023
V/v:“Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

----------------------------------

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGŨ HÀNH SƠN, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lương Thị Anh

- Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Tuấn Ngọc

Ông Trần Văn Sơn

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quỳnh Trang - Thư ký Tòa án nhân dân quận Ngũ Hành Sơn, Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ngũ Hành Sơn.TP Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Ngô Thị Trường Giang - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 5 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ngũ Hành Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 71/2022/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 11 năm 2022 về việc "Ly hôn, nuôi con chung" theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 02/2023/QĐST - HNGĐ ngày 16 tháng 3 năm 2023

- Nguyên đơn: Bà Phạm Thị Tr, sinh năm 1985. Địa chỉ: Tổ17, phường H, quận Ng, TP Đ. Bà Tr, có mặt.

- Bị đơn: Ông Võ Văn D, sinh năm 1981. Địa chỉ: Tổ 17, phường H, quận Ng, TP Đ. Ông D , vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

ơ

* Trong đơn khởi kiện gửi đến Toà án và quá trình tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn bà Phạm Thị Tr trình bày:

Tôi và ông Võ Văn D tự nguyện kết hôn với nhau vào năm 2005có đăng ký kết hôn tại UBND phường Hòa Quý, quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống với nhau tại địa bàn phường Hòa Hải, quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng. Vợ chồng chung sống đến năm 2012 thì mâu thuẫn phát sinh. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình và quan điểm sống không hợp nhau nên thường xuyên xảy ra cãi vã, xích mích, không tôn trọng nhau, không tin tưởng nhau về kinh tế. Mâu thuẫn như vậy kéo dài đến nay và đã nhiều lần nộp đơn đến tòa án rồi được động viên tôi lại rút đơn nhưng mâu thuẫn vẫn không cải thiện. Nay tôi không ai còn tình cảm yêu thương ông D nữa yêu cầu Toà án giải quyết cho tôi được ly hôn .

Về con chung: Tôi và ông D xác định có 03 con: Võ Phạm Hoài N, sinh ngày 23/11/2005; Võ Phạm Nhật M, sinh ngày 28/02/2011 và Võ Phạm Ánh D, sinh ngày 23/04/2015. Ly hôn tôi có nguyện vọng trực tiếp nuôi dưỡng cả 03 con và yêu cầu ông Dũng cấp dưỡng nuôi 03 con chung mỗi 5.000.000 đồng/tháng/3 con .

Về tài sản chung: Tự thoả thuận không yêu cầu giải quyết.

Về nợ chung: Tự thoả thuận không yêu cầu giải quyết.

Bị đơn ông Võ Văn D vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng nên không có ý kiến.

* Tại phiên tòa hôm nay vị đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án gồm:

1. Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thẩm tra viên, Hội đồng xét xử vụ án, Thư ký trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án:

* Việc tuân theo pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử:

Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm này thấy rằng về cơ bản Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án đã chấp hành đúng quy định tại Điều 48 BLTTDS. Thẩm phán đã xác định đúng về thẩm quyền thụ lý vụ án, thời hiệu khởi kiện, quan hệ pháp luật tranh chấp, tư cách pháp lý và mối quan hệ giữa những người tham gia tố tụng theo quy định của BLTTDS.

- Việc thu thập chứng cứ: Về cơ bản việc thu thập chứng cứ đảm bảo theo đúng Điều 95 BLTTDS.

- Thẩm phán đã thực hiện đúng quy định của BLTTDS về việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Việc cấp, tống đạt các văn bản tố tụng cho VKS và người tham gia tố tụng theo đúng quy định tại Điều 170, 171, 177, 178, 203, 205, 210 BLTTDS.

- Về thời hạn chuẩn bị xét xử Tòa án thực hiện đảm bảo theo quy định tại Điều 203 BLTTDS.

* Việc tuân theo pháp luật của HĐXX, Thư ký tại phiên tòa:

Tại phiên Tòa hôm nay, Hội đồng xét xử đã thực hiện nguyên tắc xét xử, thủ tục phiên tòa sơ thẩm theo đúng quy định tại chương II, chương XIV BLTTDS. Thư ký được phân công đã thực hiện đúng theo quy định tại Điều 51 BLTTDS.

2. Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm HĐXX nghị án:

Từ khi thụ lý cho đến thời điểm này, nguyên đơn, đã thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, 71, 72 BLTTDS. Bị đơn không chấp hành đúng.

Căn cứ vào Điều 51, 56, 58, 81, 83 Luật hôn nhân gia đình Việt Nam; căn cứ Điều 35, Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

- Đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn, nuôi con chung của bà Phạm Thị Tr đối với ông Võ Văn D .

- Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Phạm Thị Tr được ly hôn ông Võ Văn D

- Về con chung: Đề nghị Giao 03 con: Võ Phạm Hoài N, sinh ngày 23/11/2005; Võ Phạm Nhật M, sinh ngày 28/02/2011 và Võ Phạm Ánh Dương, sinh ngày 23/04/2015 cho bà Tr nuôi dưỡng, ông D phải cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 5.000.000đồng. Thời gian cấp dưỡng tính từ khi án có hiệu lực pháp luật cho đến khi con đủ 18 tuổi.

- Về tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết.

- Về nợ chung: Bà Trúc không yêu cầu giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và qua kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử Tòa án nhân dân quận Ngũ Hành Sơn, TP Đà Nẵng nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Về thẩm quyền giải quyết, tranh chấp ly hôn và nuôi con chung giữa ông bà thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt nên căn cứ Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt đối với bị đơn.

Về nội dung vụ án: Bà và ông Võ Văn D kết hôn với nhau vào năm 2005 có đăng ký kết hôn tại UBND phường Hòa Quý, quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng, vợ chồng chung sống đến năm 2012 thì mâu thuẫn phát sinh. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình và quan điểm sống không hợp nhau nên thường xuyên xảy ra xích mích, cãi vã, không tôn trọng nhau, không tin tưởng nhau về kinh tế. Mâu thuẫn như vậy kéo dài đến nay và bà Tr đã nhiều lần nộp đơn đến tòa án hòa giải được động viên đã rút đơn nhưng mâu thuẫn vẫn không cải thiện. Nay bà Tr không còn tình cảm yêu thương ông D nữa yêu cầu Toà án giải quyết được ly hôn .

Xét yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn thì thấy: Hạnh phúc gia đình chỉ thực sự đạt được khi cả vợ chồng cùng có niềm tin và tình yêu, sự thông cảm và chia sẻ cùng nhau trong cuộc sống nhưng đến nay cả hai ông bà đã không còn giữ được điều này. Trong thời gian Tòa án giải quyết vợ chồng cũng không tìm kiếm được tiếng nói chung, cũng như không có giải pháp để cùng nhau dung hòa mâu thuẫn. Mặt khác bản thân ông D Tòa án đã nhiều lần thông báo nhưng không có mặt, thể hiện không có thiện chí để hòa giải cho chính cuộc hôn nhân của mình. Do vậy thấy mâu thuẫn của vợ chồng đã thật sự trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, thấy có níu kéo cũng không đem lại kết quả gì nên cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Trúc đối với ông D là phù hợp với điều 51 Luật hôn nhân và gia đình.

Về con chung: bà Tr và ông Dcó 03 con: Võ Phạm Hoài N, sinh ngày 23/11/2005; Võ Phạm Nhật M, sinh ngày 28/02/2011 và Võ Phạm Ánh D, sinh ngày 23/04/2015. Ly hôn bà Trúc có nguyện vọng trực tiếp nuôi dưỡng cả 03 con và yêu cầu ông Dcấp dưỡng nuôi 03 con chung mỗi 5.000.000 đồng/tháng/3 con . Xét yêu cầu xin được nuôi cả 3 con của bà Trthì thấy, hiện nay các cháu đều có nguyện vọng xin được ở với mẹ, đồng thời cuộc sống của các cháu đang ổn định không nhất thiết phải xáo trộn gây tâm lý không tốt cho các cháu, đặc biệt hiện nay cháu N và Minh đang ở độ tuổi vị thành niên nên tiếp tục giao cả 03 cháu cho bà Trúc nuôi dưỡng là phù hợp Điều 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình là phù hợp.

Về yêu cầu cấp dưỡng nuôi con thì thấy hiện nay hiện mức yêu cầu cấp dưỡng của bà Tr đối với ông D là 5.000.000đ/ 3 con là phù hợp nên chấp nhận .

Về tài sản chung và nợ chung: Bà Trkhông yêu cầu giải quyết, còn ông Dkhông có ý kiến trong suốt quá trình tố tụng ông vắng mặt nên không có ý kiến xác định có hay không tài sản chung và nợ chung, mặt khác tại phiên tòa bà Trúc không yêu cầu giải quyết nên Tòa án không xem xét, khi nào các đương sự có yêu cầu thì giải quyết bằng một vụ dân sự khác.

Về án phí hôn nhân gia đình 300.000đ bà Phạm Thị Tr phải chịu được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí bà Trúc đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Ngũ Hành Sơn, theo biên lai thu số 0001428 ngày 03/11/2022.

Án phí cấp dưỡng nuôi con 300.000đ ông Dũng phải chịu.

Xét đề nghị của vị đại diện viện kiểm sát phù hợp với nhận định của HĐXX nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Chấp nhận đơn yêu cầu khởi kiện về việc “Ly hôn, nuôi con chung” của bà Phạm Thị Tr đối với ông Võ Văn D.

Xử:

1.Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Phạm Thị Tr được ly hôn ông Võ Văn D( Giấy chứng nhận kết hôn số 79 ngày 24/10/2005, quyển số 01 của UBND phường Hòa Quý, quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng không còn hiệu lực).

2. Về quan hệ con chung: Giao 03 chung gồm: Võ Phạm Hoài N, sinh ngày 23/11/2005; Võ Phạm Nhật M, sinh ngày 28/02/2011 và Võ Phạm Ánh D, sinh ngày 23/04/2015 cho bà Phạm Thị Tr trực tiếp nuôi dưỡng, ông Võ Văn D cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 5.000.000đ/ tháng /3con. Thời gian cấp dưỡng tính từ khi án có hiệu lực pháp luật cho đến khi các con dủ 18 tuổi.

Các bên vẫn được thực hiện mọi quyền và nghĩa vụ đối với con chung theo quy định của pháp luật. Khi cần thiết vì lợi ích chung của con các bên có quyền xin thay đổi người nuôi con hoặc yêu cầu mức cấp dưỡng nuôi con.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (Đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất qui định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự 2015.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu giải quyết.

5. Về án phí hôn nhân gia đình 300.000đ bà Phạm Thị Tr phải chịu được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí bà Tr đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Ngũ Hành Sơn, theo biên lai thu số 0001428 ngày 03/11/2022.

Án phí cấp dưỡng nuôi con 300.000đ ông Dũng phải chịu.

Án xử công khai sơ thẩm báo cho nguyên đơn biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án hôm nay. Riêng bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo trọng ạn 15 ngày kể từ ngày nhận được cấp tống đạt bản án hợp lệ. .

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế theo quy định tại các điều 6,7 và điều 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi Hành án dân sự.

Cỡ chữ