- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị H và anh H tranh chấp ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về quA hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Quỳnh H được ly hôn Ah Nguyễn Văn H.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN D THÀNH PHỐ H | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 09/2023/HNGĐ-ST Ngày 08-6-2023 V/v ly hôn, trAh chấp nuôi con chung |
NHÂN DAH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN D THÀNH PHỐ D
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Văn Thắng
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Tạ Thị H
Ông Ngô Văn Thành
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn TrAg ThAh - Thư ký Toà án nhân dân quận D, thành phố D.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận D, thành phố H tham gia phiên tòa: Ông Bùi Đình Lành - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận D, thành phố H xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình sơ thẩm thụ lý số 07/2023/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 02 năm 2023 về việc ly hôn, trAh chấp nuôi con chung theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 172/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 4 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 207/QĐST-HNGĐ ngày 24 tháng 5 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Quỳnh H; địa chỉ: Tổ 1 khu 3 phường Hồng Gai, thành phố Hạ Long, tỉnh Q; vắng mặt (có đơn xin vắng mặt).
- Bị đơn: Ah Nguyễn Văn H; địa chỉ: Tổ dân phố 3B phường Hải Thành, quận D, thành phố H; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, trong quá trình chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, nguyên đơn là chị Nguyễn Quỳnh H trình bày:
Về quA hệ hôn nhân: Chị và Ah H xây dựng gia đình với nhau vào năm 2014 có đăng ký kết hôn tại Ủy bA nhân dân phường Hải Thành, quận D, thành phố H. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hòa thuận tại gia đình Ah H đến khoảng năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng bất đồng quA điểm, xảy ra cãi vã xung đột và không tin tưởng trong quA hệ tình cảm. Khoảng cuối năm 2019, vợ chồng chị và con chung chuyển về nhà bố mẹ đẻ chị ở Q để sinh sống, nhưng Ah H không chấp nhận cuộc sống như vậy nên đã về nhà mẹ đẻ của Ah H ở quận D, thành phố H sống, vợ chồng sống ly thân từ đó đến nay. Hai vợ chồng đã hòa giải nhiều lần nhưng không đoàn tụ được. Nay chị làm đơn xin ly hôn với Ah H.
Về con chung: Chị và Ah H có 01 con chung là cháu Nguyễn Phúc Hải A, sinh ngày 19-7-2014. Khi ly hôn, chị nhận nuôi cháu Nguyễn Phúc Hải A cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Về cấp dưỡng nuôi con: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý vụ án cũng như tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho Ah H nhưng Ah H không cung cấp lời khai, không đến Tòa án hòa giải và giải quyết việc ly hôn với chị Nguyễn Quỳnh H. Tòa án đã tiến hành xác minh về mâu thuẫn vợ chồng tại gia đình Ah H và địa pH nơi Ah H sinh sống cư trú.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận D, thành phố H tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án và ý kiến về việc giải quyết vụ án: Về quA hệ hôn nhân, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho chị H được ly hôn Ah H; về con chung: Giao cho chị Nguyễn Quỳnh H trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Nguyễn Phúc Hải A, sinh ngày 19-7-2014 cho đến khi đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Về vấn đề cấp dưỡng nuôi con: Không phải xem xét giải quyết. Về tài sản chung, các đương sự không yêu cầu nên không đề nghị xem xét giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả trAh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về tố tụng:
Về quA hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Chị Nguyễn Quỳnh H và Ah Nguyễn Văn H kết hôn tự nguyện có đăng ký kết hôn theo quy định tại các điều 9, 11 và 103 của Luật Hôn nhân và Gia đình, đây là quA hệ hôn nhân hợp pháp. Chị Nguyễn Quỳnh H có đơn đề nghị Tòa án nhân dân quận D, thành phố D giải quyết ly hôn với Ah Nguyễn Văn H cư trú tại phường Hải Thành, quận D, thành phố H. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận D, thành phố H.
Về sự vắng mặt của đương sự: Tòa án đã đưa vụ án ra xét xử, Ah H đã được tống đạt Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa hợp lệ nhưng Ah H vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do chính đáng. Chị H có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa. Căn cứ các điều 227, điều 228 và điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị H và Ah H.
- Về nội dung vụ án:
Về quA hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Quỳnh H và Ah Nguyễn Văn H xây dựng gia đình với nhau năm 2014, trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định Luật Hôn nhân và Gia đình, đây là quA hệ hôn nhân hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.
Sau khi kết hôn, cuộc sống chung của vợ chồng hoà thuận, hạnh phúc đến năm 2012, thì xảy ra mâu thuẫn. Chị H và Ah H đã sống ly thân hơn 05 năm nay, không thể hòa giải được. Vợ chồng không còn quA tâm tới nhau về tình cảm và kinh tế. Chị H làm đơn xin ly hôn Ah H, Tòa án đã thông báo cho các đương sự để tiến hành hòa giải nhưng Ah H không có mặt nên không hòa giải được. Ah H không cung cấp lời khai, cũng không có đề nghị hay có giải pháp gì để vợ chồng hòa giải đoàn tụ. Mẹ đẻ Ah H cũng cung cấp và xác định, chị H và Ah H đã ly thân và không còn quA tâm tới nhau về tình cảm. Hội đồng xét xử xét thấy, theo quy định tại Điều 19 của Luật Hôn nhân và Gia đình: "1. Vợ chồng có nghĩa vụ tH yêu, chung thủy, tôn trọng, quA tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình. 2. Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác hoặc do yêu cầu của nghề nghiệp, công tác, học tập, tham gia các hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và lý do chính đáng khác". Căn cứ vào quy định của pháp luật và thực tế, có thể thấy hai bên đã vi phạm nghiêm trọng quyền và nghĩa vụ của vợ chồng, làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, yêu cầu của chị H về việc xin ly hôn Ah H là phù hợp với Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình nên cần chấp nhận.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là cháu Nguyễn Phúc Hải A, sinh ngày 19-7-2014. Hội đồng xét xử xét thấy, cháu Nguyễn Phúc Hải A có nguyện vọng ở với chị H; qua xác minh từ phía gia đình Ah H cung cấp giữa chị H và Ah H đã thống nhất để chị H là người trực tiếp nuôi con chung. Chị H có đủ điều kiện đảm bảo về vật chất và tinh thần để nuôi con. Vì vậy cần chấp nhận đề nghị của chị H, giao cháu Nguyễn Phúc Hải A cho chị H nuôi là phù hợp với pháp luật, với thực tế và đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp và nguyện vọng của con chung, phù hợp quy định tại các điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình nên cần được chấp nhận. Vấn đề cấp dưỡng nuôi con, do các đương sự không yêu cầu nên không phải xem xét giải quyết.
Về tài sản chung: Chị H và anh H không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
Về án phí: Chị Nguyễn Quỳnh H là nguyên đơn trong vụ án ly hôn phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Chị H và anh H được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; các điều 51, 56, 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và Gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy bA thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:
1. Về quA hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Quỳnh H được ly hôn Ah Nguyễn Văn H.
2. Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Quỳnh H trực tiếp nuôi con chung cháu Nguyễn Phúc Hải A, sinh ngày 19-7-2014 cho đến con chung khi đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định pháp luật. Vấn đề cấp dưỡng nuôi con: Chị H và Ah H không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
3. Về tài sản chung: Chị H và anh H không yêu cầu nên không phải xem xét giải quyết
4. Về án phí: Chị Nguyễn Quỳnh H phải nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền đã nộp tạm ứng án phí theo Biên lai thu tạm ứng án phí Tòa án số 0000876 ngày 26 tháng 12 năm 2022, tại Cục Thi hành án dân sự thành phố H. Chị H đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Chị H, anh H có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND quận H; - VKSND thành phố H; - TAD thành phố H; - Cục THADS quận D; - UBND phường Hải Thành (ĐKKH số 13/2014); - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Văn Thắng |