vanban.org

Bản án 09/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Vũ Thu H được ly hôn anh Nguyễn Quang T (Nguyễn Trọng T).

Về con chung: Giao cho chị Vũ Thu H được trực tiếp nuôi dưỡng con chung Vũ Hải Đ1, sinh ngày 14/01/2022, anh Nguyễn Quang T (Nguyễn Trọng T) không phải cấp dưỡng nuôi con. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "vụ án ly hôn, tranh chấp nuôi con chung"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Vũ Thu H được ly hôn anh Nguyễn Quang T (Nguyễn Trọng T).
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VĂN CHẤN
TỈNH YÊN BÁI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 09/2023/HNGĐ - ST
Ngày 02/3/2023
V/v: Ly hôn, tranh chấp nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN CHẤN, TỈNH YÊN BÁI

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lưu Hoa Quỳnh.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Đỗ Văn Bách

2. Bà Hà Thị Thúy

-Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Diệp Linh - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện Văn Chấn.

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái tham gia phiên tòa: Ông Lưu Thượng Thống - Kiểm sát viên.

Ngày 02 tháng 3 năm 2023 Tòa án nhân dân huyện Văn Chấn xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 287/2022/TLST - HNGĐ, ngày 10/11/2022 về ly hôn, tranh chấp nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2023/QĐXX ST-HNGĐ ngày 17 tháng 01 năm 2023; Quyết định hoãn phiên tòa số: 02/2023/QĐST

- HNGĐ ngày 07 tháng 02 năm 2023, Thông báo mở lại phiên tòa số 12/2023/ TB-TA ngày 15/02/2023 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Vũ Thu H, sinh năm 1997.

Địa chỉ: Thôn N, xã N1, huyện V, tỉnh Yên Bái.

Vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt.

Bị đơn: Anh Nguyễn Quang T (Nguyễn Trọng T), sinh năm 1994.

Địa chỉ: Thôn N, xã N1, huyện V, tỉnh Yên Bái. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện và bản tự khai chị Vũ Thu H trình bày: Chị và anh T kết hôn và có đăng ký vào ngày 25/11/2017 tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Bình, sau kết hôn vợ chồng sống chung tại Thôn N, xã N1, huyện V, tỉnh Yên Bái. Vợ chồng sống chung đến 10/02/2022 thì xảy ra nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do anh T nghiện ma túy, chị H đã từng xin ly hôn năm 2020 và nhiều lần khuyên ngăn nhưng anh T không thay đổi. Vợ chồng sống ly thân từ tháng 2/2022 đến nay. Hiện tại chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị Tòa án cho ly hôn với anh Nguyễn Quang T (Nguyễn Trọng T). Về con chung: Anh chị có 01 con chung là Vũ Hải Đ1, sinh ngày 14/01/2022. Sau ly hôn chị H có nguyện vọng trực tiếp nuôi con chung, không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con.

Toà án đã tiến hành tống đạt thông báo thụ lý vụ án và triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng anh Nguyễn Quang T (Nguyễn Trọng T) không có mặt để giải quyết vụ án.

Tại biên bản xác minh ngày 19/12/2022, Trưởng Thôn N, xã N1 cho biết: Chị H và anh T kết hôn có đăng ký. Sau khi kết hôn anh chị về chung sống tại thôn N, xã N1, quá trình chung sống vợ chồng có mâu thuẫn nguyên nhân chủ yếu do anh T nghiện ma túy, chơi bời, Tổ hòa giải của thôn đã tham gia hòa giải nhưng không được. Anh T và chị H có 01 con chung là Vũ Hải Đ1, sinh năm 2022, hiện cháu Đ1 đang do chị H nuôi dưỡng, anh T đi làm ăn xa nhà thi thoảng về thăm con rồi lại đi. Chị H ở địa phương là lao động tự do có mức thu nhập khoảng 150.000 đồng đến 200.000 đồng/ ngày.

Tại biên bản xác minh ngày 19/12/2022, Phó Trưởng Công an xã N1 cho biết: Anh Nguyễn Quang T (Nguyễn Trọng T) có hộ khẩu thường trú tại Thôn N, xã N1, hiện anh T là đối tượng nghiện đang thuộc sự quản lý của Công an xã N1. Hiện nay anh T đi làm ăn, không có mặt tại địa phương thường xuyên mà đi làm thi thoảng về rồi lại đi ngay, lẩn tránh sự quản lý của Công an xã.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Chấn tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký, việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đảm bảo đúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự; bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình theo quy định của pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Vũ Thu H: Xử cho chị H được ly hôn anh T; về con chung: Do con chung còn nhỏ dưới 36 tháng tuổi, anh T là đối tượng sử dụng và nghiện ma túy nên đề nghị giao cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng cháu Vũ Hải Đ1, anh Nguyễn Quang T (Nguyễn Trọng T) không phải cấp dưỡng nuôi con; về tài sản chung và nợ chung các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết; về án phí nguyên đơn chịu án phí theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thẩm quyền giải quyết: Anh Nguyễn Quang T (Nguyễn Trọng T) đăng ký hộ khẩu thường trú tại Thôn N, xã N1, huyện V, tỉnh Yên Bái vụ án do Tòa án nhân dân huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng Dân sự.

Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật, nhưng tại phiên tòa anh Nguyễn Quang T (Nguyễn Trọng T) vẫn vắng mặt không có lý do. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử, xét xử vắng mặt bị đơn do đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do thể hiện thái độ cố tình trốn tránh nghĩa vụ đối với nguyên đơn. Chị Vũ Thu H vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt. Do đó, căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228; Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử quyết định xét xử vụ án vắng mặt chị Vũ Thu H và anh Nguyễn Quang T (Nguyễn Trọng T).

Về quan hệ hôn nhân: Chị Vũ Thu H và anh Nguyễn Quang T (Nguyễn Trọng T) kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký ngày 25/11/2017 tại Uỷ ban nhân dân xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Bình. Theo quy định tại khoản 1 Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình, quan hệ hôn nhân giữa chị H và anh Nguyễn Quang T (Nguyễn Trọng T) được công nhận là hôn nhân hợp pháp.

Trong quá trình chung sống chị H cho rằng vợ chồng xảy ra mâu thuẫn do anh T nghiện ma túy, chị đã từng xin ly hôn năm 2020 và khuyên bảo anh T nhưng anh T không thay đổi. Tại biên bản xác minh với chính quyền địa phương xác định trong quá trình sống chung chị H và anh T có mâu thuẫn nguyên nhân do anh T nghiện ma túy, chơi bời. Hội đồng xét xử xét thấy quan hệ hôn nhân của chị H và anh T đã lâm vào tình trạng trầm trọng, vợ chồng không còn yêu thương, quan tâm đến nhau, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không thể đạt được. Do vậy yêu cầu xin ly hôn của chị H phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về con chung: Anh chị có 01 con chung là Vũ Hải Đ1, sinh ngày 14/01/2022. Sau ly hôn chị H có nguyện vọng trực tiếp nuôi con chung, không yêu anh T phải cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét xử thấy cháu Vũ Hải Đ1, sinh ngày 14/01/2022 tính đến thời điểm xét xử cháu Đ1 dưới 36 tháng tuổi, qua xác minh Công an xã N1 đã xác nhận anh T là đối tượng nghiện ma túy thuộc quản lý của công an xã. Để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho người phụ nữ và con chưa thành niên trong việc nuôi dưỡng, chăm sóc con khi ly hôn thì việc giao cho chị Vũ Thu H trực tiếp nuôi dưỡng con chung Vũ Hải Đ1, anh Nguyễn Quang T (Nguyễn Trọng T) không phải cấp dưỡng nuôi con là phù hợp theo quy định tại các Điều 81; Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Chị Vũ Thu H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn 300.000 đồng;

Quan điểm về việc giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với quy định của pháp luật, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Áp dụng khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 81; Điều 82 Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

- Áp dụng khoản 4 Điều 147; Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228; Điều 238; Điều 271; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Vũ Thu H được ly hôn anh Nguyễn Quang T (Nguyễn Trọng T).

2. Về con chung: Giao cho chị Vũ Thu H được trực tiếp nuôi dưỡng con chung Vũ Hải Đ1, sinh ngày 14/01/2022, anh Nguyễn Quang T (Nguyễn Trọng T) không phải cấp dưỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về án phí: Chị Vũ Thu H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp tại Biên lai số AA/2021/0002726 ngày 10/11/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Văn Chấn tỉnh Yên Bái, chị H đã nộp đủ án phí.

4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ