vanban.org

Bản án 09/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Về hôn nhân: Chấp nhận cho bà Nguyễn Thị Thu H được ly hôn ông Ngô Tuấn N. Về con chung: Giao 02 con chung là Ngô Gia H1 sinh ngày 22/12/2014, Ngô Gia H2 sinh ngày 11/02/2018 cho bà Nguyễn Thị Thu H trực tiếp nuôi dưỡng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con"
  • Tòa quyết gì? điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 218 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TUY PHONG
TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 09/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 17 - 02 - 2023
V/v: Tranh chấp về ly hôn, nuôi con

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHONG, TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đồng Vũ.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Trọng Di.

2. Bà Trần Thị Ngọc Linh.

- Thư ký phiên tòa: Ông Văn Hồng Lễ, Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Ông Lâm Đa Cha, Kiểm sát viên.

Ngày 17/02/2023, tại Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 393/2022/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 10 năm 2022 về việc “Tranh chấp về ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 82/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 12/12/2022 của Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 1989. (Có mặt)

Địa chỉ: Dân phố a, khu phố T, thị trấn P, huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận.

2. Bị đơn: Ông Ngô Tuấn N, sinh năm 1976. (Vắng mặt)

Địa chỉ: Dân phố b, khu phố S, thị trấn P, huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, biên bản lấy lời khai của đương sự và tại phiên tòa nguyên đơn trình bày: Bà Nguyễn Thị Thu H và ông Ngô Tuấn N tự nguyện chung sống và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn P, huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận theo Giấy chứng nhận kết hôn số 334 quyển số 02 ngày 12/11/2012. Thời gian đầu vợ chồng còn hạnh phúc nhưng từ năm 2014, bà H ông N bắt đầu xảy ra mâu thuẫn do ông N cá độ đá banh dẫn đến nợ nần nhiều người, ông N đã tự ý lấy số tiền tiết kiệm của vợ chồng để trả nợ và tiêu xài cá nhân hết, bà H đã tha thứ, bỏ qua và tiếp tục chung sống. Đến năm 2018, ông N lại cá độ đá banh, bà H nhiều lần vay tiền trả nợ và khuyên ngăn nhưng ông N vẫn không thay đổi. Bà H ông N không còn chung sống như vợ chồng từ tháng 4/2022 đến nay và không còn quan tâm đến nhau, nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:

+ Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Thu H ly hôn ông Ngô Tuấn N.

+ Về con chung: Quá trình chung sống, bà H ông N có 02 con chung là Ngô Gia H1 sinh ngày 22/12/2014, Ngô Gia H2 sinh ngày 11/02/2018, bà H đang trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung. Bà H rút yêu cầu khởi kiện về cấp dưỡng cho con, nay chỉ yêu cầu được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung, không yêu cầu ông N phải cấp dưỡng cho con.

+ Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong suốt quá trình tố tụng, bị đơn không có mặt tại tòa để trình bày ý kiến.

Ngày 08/11/2022, Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong đã tiến hành xác minh tại khu phố S, thị trấn P, huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận, kết quả như sau: Ông Ngô Tuấn N có đăng ký hộ khẩu thường trú tại dân phố 32, khu phố S, thị trấn P, huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận, nhưng hiện nay không có mặt tại địa phương, ông N đi đâu, làm gì không rõ; Về tình trạng hôn nhân, được biết ông N không lo làm ăn mà có tính cờ bạc dẫn đến nợ nần nên vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, bà H ông N không còn chung sống với nhau từ tháng 4/2022 đến nay; Về con chung, có 02 con chung là Ngô Gia H1, Ngô Gia H2 hiện đang sống cùng với bà H.

Ngày 08/11/2022, Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong đã tiến hành xác minh tại khu phố T, thị trấn P, huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận, kết quả như sau: Bà H ông N có 02 con chung là Ngô Gia H1, Ngô Gia H2, các con chung hiện đang sống cùng với bà H tại địa phương.

Do không thể tống đạt trực tiếp văn bản tố tụng cho bị đơn nên Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng: Thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, thông báo kết quả phiên họp, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Vụ án không tiến hành hòa giải được do bị đơn không có mặt tại Tòa án.

Tại phiên tòa sơ thẩm:

Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong:

Về việc tuân theo pháp luật, thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký tiến hành tố tụng đúng quy định.

Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn. Về con chung: Có 02 con chung là Ngô Gia H1 sinh ngày 22/12/2014, Ngô Gia H2 sinh ngày 11/02/2018, đề nghị giao 02 con chung cho bà H tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng. Về yêu cầu cấp dưỡng cho con, tại phiên tòa, nguyên đơn tự nguyện rút yêu cầu, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận và đình chỉ xét xử đối với yêu cầu cấp dưỡng cho con. Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét, giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa cũng như căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Nguyễn Thị Thu H khởi kiện yêu cầu ly hôn ông Ngô Tuấn N và tranh chấp nuôi con chung do đó Tòa án thấy rằng đây là “Tranh chấp về ly hôn, nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự 2015. Bị đơn có địa chỉ cư trú tại thị trấn P, huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận nên theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong.

Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là phù hợp với quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Thu H và ông Ngô Tuấn N tự nguyện chung sống và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn P, huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận nên hôn nhân hợp pháp. Theo lời khai của nguyên đơn và biên bản xác minh tại địa phương thì sau khi xảy ra mâu thuẫn vợ chồng do ông N thường cá độ đá banh dẫn đến nợ nần, bà H nhiều lần khuyên can nhưng ông N không thay đổi, nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, bà H ông N không còn chung sống như vợ chồng từ tháng 4/2022 đến nay và không còn quan tâm đến nhau nữa nên bà H yêu cầu ly hôn ông N. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập ông N đến giải quyết nhưng ông không chấp hành. Như vậy tình trạng hôn nhân của bà H ông N đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, để đảm bảo quyền lợi của các đương sự và ổn định cuộc sống cho các bên, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 51, Điều 54, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn.

Về con chung: Bà H ông N có 02 con chung là Ngô Gia H1 sinh ngày 22/12/2014, Ngô Gia H2 sinh ngày 11/02/2018, bà H yêu cầu được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung. Theo biên bản xác minh tại địa phương thì bà H đang trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung và cháu Ngô Gia H1 cũng có nguyện vọng được tiếp tục ở với bà H. Xét thấy yêu cầu của bà H là có cơ sở chấp nhận bởi lẽ từ khi không còn chung sống như vợ chồng thì bà H là người trực tiếp nuôi dưỡng các con chung, nên giao 02 con chung cho bà H tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp.

Đối với yêu cầu cấp dưỡng cho con, tại phiên tòa, nguyên đơn tự nguyện rút yêu cầu, do đó Hội đồng xét xử chấp nhận và đình chỉ xét xử đối với yêu cầu cấp dưỡng theo khoản 2 Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn được quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết lại vụ án đối với yêu cầu cấp dưỡng.

Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự không có yêu cầu nên không xem xét, giải quyết.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong tại phiên tòa là có căn cứ và phù hợp nên chấp nhận.

Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì Bà Nguyễn Thị Thu H phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào:

- khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 271, khoản 1 Điều 273, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 2 Điều 244, khoản 1, khoản 3 Điều 218 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

- Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

- điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Chấp nhận cho bà Nguyễn Thị Thu H được ly hôn ông Ngô Tuấn N.

2. Về con chung: Giao 02 con chung là Ngô Gia H1 sinh ngày 22/12/2014, Ngô Gia H2 sinh ngày 11/02/2018 cho bà Nguyễn Thị Thu H trực tiếp nuôi dưỡng.

Ông Ngô Tuấn N được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai được cản trở.

3. Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu cấp dưỡng cho con của nguyên đơn. Nguyên đơn Nguyễn Thị Thu H được quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết lại vụ án đối với yêu cầu cấp dưỡng cho con theo khoản 1 Điều 218 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

4. Về án phí:

Bà Nguyễn Thị Thu H là nguyên đơn phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền 600.000 đồng (sáu trăm nghìn đồng) đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0011831 ngày 18/10/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tuy Phong. Hoàn trả cho bà Nguyễn Thị Thu H 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).

5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ