vanban.org

Bản án 09/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm b, c Khoản 3 Nghị quyết số 35/2000/NQ-QH10 ngày 09/6/2000 về thi hành Luật hôn nhân và gia đình năm 2000;

Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lò Thị T. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lò Thị T - Lò Văn TH- Ly hôn, không công nhận quan hệ vợ chồng"
  • Tòa quyết gì? Điểm b, c Khoản 3 Nghị quyết số 35/2000/NQ-QH10 ngày 09/6/2000 về thi hành Luật hôn nhân và gia đình năm 2000;
  • Căn cứ chính? Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình
TAND HUYỆN TU
TỈNH LC
——————————

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 09/2023/HNGĐ-ST
Ngày 28-6- 2023
V/v: Ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TU TỈNH LC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Quàng Thị Phương.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Lệ Thuỷ

Bà Vừ Thị Hoa

- Thư ký phiên tòa: Ông Lò Văn Sơm – Thư ký Tòa án nhân dân huyện TU, tỉnh LC.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện TU tham gia phiên tòa: Ông Đào Khánh Thiện - Kiểm sát viên.

Trong ngày 28 tháng 6 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện TU tỉnh LC xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 66/2023/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 4 năm 2023 về “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 12/2023/QĐXXST - HNGĐ ngày 12 tháng 6 năm 2023 giữa các đương sự.

1. N đơn: Chị Lò Thị T, sinh năm: 1986; Nơi ĐKHKTT: Bản P, xã T, huyện TU, tỉnh LC; (Có mặt).

2. Bị đơn: Anh Lò Văn TH, sinh năm: 1983; Nơi ĐKHKTT: Bản TM, xã TM, huyện TU, tỉnh LC; (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện đề ngày 24 tháng 4 năm 2023 và những lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa N đơn là chị Lò Thị T trình bày.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Lò Thị Tiến và anh Lò Văn Thâm sống chung với nhau như vợ chồng từ năm 2001 và đăng ký hộ khẩu thường trú tại xã TM, huyện TU, tỉnh LC. Do thiếu hiểu biết pháp luật nên chị T và anh TH không đăng ký kết hôn theo quy định. Anh chị sống chung hạnh phúc được hơn mười năm, đến năm 2014 thì phát sinh mâu thuẫn, N nhân là do anh Lò Văn TH thường xuyên sử dụng rượu, bia không chịu tu chí làm ăn, lao động, sản xuất, vun vén kinh tế gia đình, nuôi dạy con cái và mắc vào tệ nạn xã hội, nghiện chất ma tuý. Chị T cùng hai bên gia đình nhiều lần động viên, nhắc nhở nhưng không thành dẫn đến tình cảm vợ chồng rạn nứt, mâu thuẫn gia đình trở nên trầm trọng. Từ năm 2019 đến nay chị T và anh TH không còn chung sống như vợ chồng. Chị Lò Thị T yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, không công nhận chị Lò Thị T và anh Lò Văn TH là vợ chồng.

Về nuôi con chung: Trong thời gian chung sống như vợ chồng chị Lò Thị T và anh Lò Văn TH có hai con chung là chị Lò Thị N, sinh ngày 06/3/2002 và anh Lò Xuân T, sinh ngày 14/02/2004. Hiện nay các con chung đã thành niên (đủ 18 tuổi) không mất năng lực hành vi dân sự và có khả năng lao động nên chị T không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về chia tài sản chung, nợ chung, cho vay chung: Chị Lò Thị T không yêu cầu Toà án giải quyết.

Trong quá trình giải quyết vụ án, tại các biên bản lấy lời khai anh Lò Văn TH trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh Lò Văn TH khẳng định về thời điểm sống chung và không có đăng ký kết hôn như chị Lò Thị T trình bày là đúng. Anh chị sống chung hạnh phúc được hơn mười năm, đến năm 2014 thì phát sinh mâu thuẫn, N nhân là do chị T bỏ nhà đi làm thuê không được sự nhất trí của anh TH và có mối quan hệ ngoại tình với người khác nên vợ chồng thường xuyên cãi cọ. Anh T thừa nhận có hành vi bạo lực gia đình, đánh đập chị T và bản thân có sử dụng ma tuý, đã từng được cai nghiện bắt buộc và hiện nay đang sử dụng thuốc thay thế là Methadone. Anh chị đã sống ly thân từ năm 2019 đến nay. Do còn tình cảm với chị T nên anh TH không đồng ý ly hôn.

Về nuôi con chung: Anh Lò Văn TH công nhận anh và chị Lò Thị T có hai con chung như chị T trình bày là đúng. Hiện nay các con chung đã thành niên (đủ 18 tuổi) không mất năng lực hành vi dân sự và có khả năng lao động nên không đề nghị xem xét giải quyết.

Về chia tài sản chung, nợ chung, cho vay chung: Anh Lò Văn TH không yêu cầu Toà án giải quyết.

Toà án nhân dân huyện TU thụ lý vụ án và xác minh tại Ủy ban nhân dân xã TM, huyện TU, tỉnh LC và đại diện hai bên gia đình anh TH, chị T xác định: Chị Lò Thị T và anh Lò Văn TH đã sống chung như vợ chồng từ năm 2001 nhưng không đăng ký kết hôn theo quy định, hiện đang sinh sống và đăng ký thường trú tại xã TM, huyện TU, tỉnh LC. Thời gian chị T và anh TH sống chung như vợ chồng là 10 năm, đến năm 2019 thì không còn sống chung. Chị Lò Thị T và anh Lò Văn TH có hai con chung là chị Lò Thị N, sinh ngày 06/3/2002 và anh Lò Xuân T, sinh ngày 14/02/2004. Hiện nay các con chung đã thành niên (đủ 18 tuổi) không mất năng lực hành vi dân sự và có khả năng lao động. Chị T yêu cầu giải quyết ly hôn, anh TH không nhất trí với lý do còn tình cảm và muốn đoàn tụ với chị T. Tòa án đã T hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và quyết định đưa vụ án ra xét xử.

Tại phiên toà, chị Lò Thị T giữ N yêu cầu khởi kiện ly hôn, yêu cầu Tòa án không công nhận chị T và anh TH là vợ chồng. Anh Lò Văn TH không đồng ý ly hôn với chị Lò Thị T. Các đương sự không yêu cầu Toà án giải quyết việc nuôi con chung sau khi ly hôn do các con chung đã thành niên (đủ 18 tuổi) không mất năng lực hành vi dân sự và có khả năng lao động và không yêu cầu chia tài sản chung.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TU tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Thư ký Tòa án đã tuân thủ theo đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm và đảm bảo đúng N tắc xét xử. Về phía các đương sự: Các đương sự từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật Tố tụng dân sự về quyền và nghĩa vụ của đương sự.

- Về nội dung vụ án: Căn cứ vào khoản 1 Điều 11, Điều 87 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000; Điều 9, khoản 1 Điều 14; Điều 53, Điều 131 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147; khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội; Nghị quyết 35/2000/NQ-QH10 ngày 09/6/2000 của Quốc hội. Đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lò Thị T. Không công nhận chị Lò Thị T và anh Lò Văn TH là vợ chồng.

Về nuôi con chung: Hai con chung của chị Lò Thị T và anh Lò Văn TH đã thành niên (đủ 18 tuổi) không mất năng lực hành vi dân sự và có khả năng lao động nên không xem xét, giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung, cho vay chung: Do các đương sự không có yêu cầu nên không xem xét, giải quyết.

Về án phí dân sự sơ thẩm: N đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Căn cứ vào yêu cầu khởi kiện của N đơn chị Lò Thị T xác định đây là vụ án Hôn nhân và gia đình về “Ly hôn” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Bị đơn là anh Lò Văn TH có hộ khẩu thường trú tại bản TM, xã TM, huyện Than Uyên, tỉnh LC. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự xác định vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện TU, tỉnh LC.

. Về quan hệ hôn nhân:

Căn cứ vào lời khai của các đương sự, biên bản xác minh tại Ủy ban nhân dân xã Mường Than, huyện TU, tỉnh LC và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, xác định:

Chị Lò Thị T và anh Lò Văn TH sống chung với nhau như vợ chồng từ năm 2001 nhưng do thiếu hiểu biết pháp luật cùng với phong tục tập quán hôn nhân gia đình lạc hậu nên anh chị vẫn tổ chức cưới hỏi và được hai bên gia đình thừa nhận theo phong tục địa phương nhưng không đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Từ thời điểm đó đến nay anh chị vẫn không T hành thủ tục đăng ký kết hôn. Qua xác minh, kiểm tra sổ sách về việc đăng ký kết hôn của Ủy ban nhân dân xã TM, huyện TU tại thời điểm anh T, anh TH sống chung không có thông tin đăng ký kết hôn của anh chị. Việc chị Lò Thị T và anh Lò Văn TH sống chung như vợ chồng từ năm 2001 mà không đăng ký kết hôn là không hợp pháp và không được pháp luật thừa nhận, vi phạm khoản 1 Điều 11, Điều 87 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, đến thời điểm hiện tại anh chị vẫn không T hành thủ tục đăng ký kết hôn vi phạm khoản 1 Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng. Mặt khác, trong thời gian chung sống anh chị thường xuyên phát sinh mâu thuẫn, các đương sự đưa ra N nhân phát sinh mâu thuẫn do sử dụng rượu, bia, ma tuý và ngoại tình nhưng không có tài liệu, chứng cứ để chứng minh và thực tế anh chị đã không còn sống chung từ năm 2019 đến nay. Do đó, chị T có yêu cầu giải quyết ly hôn, yêu cầu Tòa án không công nhận chị T và anh TH là vợ chồng nên Hội đồng xét xử cần căn cứ khoản 1 Điều 11, Điều 87 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000; khoản 1 Điều 9, Điều 14, Điều 15, khoản 2 Điều 53, Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm b, c Khoản 3 Nghị quyết số 35/2000/NQ-QH10 ngày 09/6/2000 về thi hành Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 để tuyên bố không công nhận chị Lò Thị T và anh Lò Văn TH là vợ chồng.

. Về nuôi con chung: Căn cứ giấy khai sinh số 233 ngày 18/10/2007 và giấy khai sinh số 32 ngày 18/4/2023 của Ủy ban nhân dân xã TM, huyện TU và các biên bản xác minh tại Ủy ban nhân dân xã TM và đại diện thôn bản, nơi cư trú của các đương sự xác định:

Trong thời gian chung sống như vợ chồng chị Lò Thị T và anh Lò Văn TH có hai con chung chưa thành niên là chị Lò Thị N, sinh ngày 06/3/2002 và anh Lò Xuân T, sinh ngày 14/02/2004. Thời điểm giải quyết, xét xử vụ án các con chung đã thành niên (đủ 18 tuổi), không mất năng lực hành vi dân sự và có khả năng lao động nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

. Về tài sản chung, nợ chung, cho vay chung: Do các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

. Về án phí dân sự sơ thẩm: N đơn là chị Lò Thị T phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

. Về quyền kháng cáo: Chị Lò Thị T và anh Lò Văn TH có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

. Chấp nhận toàn bộ ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TU về quan điểm giải quyết nội dung vụ án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Khoản 1 Điều 11, Điều 87 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000;

- Điều 9, Điều 14, Điều 15, Khoản 2 Điều 53, Điều 131 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Điều 39 của Bộ luật dân sự;

- Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147; khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Điểm b, c Khoản 3 Nghị quyết số 35/2000/NQ-QH10 ngày 09/6/2000 về thi hành Luật hôn nhân và gia đình năm 2000;

- Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lò Thị T.

2. Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận chị Lò Thị T và anh Lò Văn TH là vợ chồng.

3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Lò Thị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) . Xác nhận chị Lò Thị T đã nộp tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí lệ phí Tòa án số AA/2021/0001504 ngày 28/4/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện TU, tỉnh LC nay chuyển thành án phí.

4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ