- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn L - T"
- Tòa quyết gì? Điểm a khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 09/2023/HNGĐ-ST Ngày: 13 - 01 - 2023 V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Mai Văn Lợi
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hồng Nguyên và bà Hoàng Thị Bích Ngọc.
Thư ký phiên tòa: Bà Lý Thị Chuyên – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Lại Thị Hiền – Kiểm sát viên.
Trong ngày 13 tháng 01 năm 2023, tại Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 410/2022/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 10 năm 2022, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 82/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 12 năm 2022; Quyết định hoãn phiên tòa số 95/2022/QĐST-HNGĐ ngày 28/12/2022, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Ngọc L – sinh năm: 1993.
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp CĐ, xã TP, huyện ĐP, tỉnh Bình Phước.
Chỗ ở hiện tại: Số nhà 216, đường LQĐ, phường TT, thành phố ĐX, tỉnh Bình Phước.
Bị đơn: Anh Trần Văn T – sinh năm: 1990.
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số nhà 16/2, tổ 5, ấp 1, xã PT, huyện TP, tỉnh Đồng Nai.
(Chị L có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt; anh T vắng mặt không có lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Ngọc L trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Trần Văn T tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2017 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã PT vào ngày 09/10/2017. Cuộc sống chung của vợ chồng hạnh phúc đến đầu năm 2022 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung. Ngoài ra, anh T ham mê bài bạc, không quan tâm, chăm sóc gia đình. Chị đã nhiều lần khuyên nhủ nhưng anh T vẫn không thay đổi. Từ tháng 02/2022 đến nay, chị và anh T đã sống ly thân nhau. Nay tình cảm không còn nên chị yêu cầu ly hôn với anh Trần Văn T.
Về con chung: Chị và anh T có 01 con chung là Trần Nguyễn Phúc K – sinh ngày: 22/3/2018.
Từ khi chị và anh T sống ly thân nhau đến nay, con chung do chị trực tiếp nuôi dưỡng.
Khi ly hôn, chị yêu cầu được trực tiếp nuôi con và không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có, nên không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.
Đối với anh Trần Văn T: Mặc dù khi thụ lý và tiến hành các hoạt động tố tụng, Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án và Giấy triệu tập anh T đến Tòa án làm việc nhưng anh T không đến Tòa án để thể hiện nguyện vọng của mình.
Trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Ngọc L đã giao nộp những tài liệu, chứng cứ sau: Căn cước công dân, Sổ hộ khẩu của chị L (bản sao); Sổ hộ khẩu của anh T (photo); Giấy chứng nhận kết hôn (bản chính); Giấy khai sinh của con chung (bản sao); Bản tự khai của chị L (bản chính); Đơn đề nghị xét xử vắng mặt (bản chính). Để giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành thu thập chứng cứ sau: Biên bản xác minh về tình trạng hôn nhân và tình trạng cư trú của các đương sự. Các tài liệu, chứng cứ nêu trên đã được Tòa án ra thông báo cho các bên đương sự biết đồng thời tiến hành mở phiên họp kiểm tra giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải và ra thông báo kết quả về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ cho những người vắng mặt theo đúng quy định của pháp luật.
Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa sơ thẩm:
- Về việc tuân theo pháp luật: Từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm trước khi nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, các đương sự đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Do nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt lần thứ hai tại phiên tòa nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự là đúng quy định pháp luật.
- Về nội dung vụ án:
+ Về quan hệ hôn nhân: Xét vợ chồng chị L và anh T đã xảy ra mâu thuẫn, không hòa giải đoàn tụ được. Vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị L, cho chị Nguyễn Thị Ngọc L được ly hôn với anh Trần Văn T.
+ Về con chung: Đề nghị giao 01 con chung là Trần Nguyễn Phúc K – sinh ngày: 22/3/2018 cho chị Nguyễn Thị Ngọc L trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm thời anh Trần Văn T không phải cấp dưỡng nuôi con do chị L không yêu cầu.
+ Về tài sản chung, nợ chung: Chị L không yêu cầu giải quyết. Hiện nay vắng mặt anh T nên chưa điều tra, làm rõ được, vì vậy đề nghị tách ra giải quyết bằng vụ án khác khi phát sinh tranh chấp.
+ Về án phí: Đề nghị buộc chị Nguyễn Thị Ngọc L phải chịu 300.000đ án phí DSST về ly hôn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa:
. Về áp dụng pháp luật tố tụng: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Ngọc L khởi kiện yêu cầu ly hôn, giải quyết về việc nuôi dưỡng con chung đối với bị đơn anh Trần Văn T. Anh T đang cư trú tại huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự xác định quan hệ pháp luật là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.
Chị Nguyễn Thị Ngọc L và anh Trần Văn T là các đương sự trong vụ án, Tòa án đã triệu tập hợp lệ đến Tòa án để tham gia phiên tòa nhưng chị L có đơn xin xét xử vắng mặt, anh T vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Vì vậy căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án tiến hành mở phiên tòa xét xử vắng mặt các đương sự.
. Về áp dụng pháp luật nội dung: Chị L và anh T kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã PT vào ngày 09/10/2017. Nay chị L yêu cầu ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn với anh T nên Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 9, 51, 56, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 để giải quyết.
. Về nội dung yêu cầu khởi kiện:
[3.1]. Về quan hệ hôn nhân: Chị L và anh T tự nguyện sống chung với nhau và có đăng ký kết hôn vào ngày 09/10/2017. Như vậy hôn nhân của anh chị là hợp pháp theo quy định tại Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Quá trình chung sống vợ chồng anh chị sống hòa thuận, hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Chị L yêu cầu ly hôn vì do vợ chồng bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung, anh T ham mê bài bạc, không quan tâm, chăm sóc gia đình.
Sau khi thụ lý vụ án Tòa án đã nhiều lần tiến hành triệu tập anh T đến Tòa án để hòa giải nhưng anh T không đến để làm việc. Điều này thể hiện ý chí của anh T không muốn hàn gắn, đoàn tụ. Đồng thời qua xác minh tại địa phương thể hiện đời sống chung của vợ chồng anh chị không hạnh phúc và đã sống ly thân nhau (bút lục 32 – 33).
Xét thấy hôn nhân của chị L và anh T lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Ngọc L là cho chị được ly hôn với anh Trần Văn T.
. Về con chung: Chị L và anh T có 01 con chung là Trần Nguyễn Phúc K – sinh ngày: 22/3/2018.
Chị L yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Xét thấy, bản thân chị L có đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Từ khi chị L và anh T sống ly thân đến nay, con chung sống cùng chị L và được chị L chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng tốt. Vì vậy, căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của các con chung, Hội đồng xét xử quyết định giao cháu K cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng nuôi con: Tạm thời anh T không phải cấp dưỡng nuôi con do chị L không yêu cầu.
Khi nào có tranh chấp về việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con sẽ giải quyết bằng vụ án khác.
. Về tài sản chung, nợ chung: Chị L không yêu cầu giải quyết về tài sản chung và kê khai không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết. Hiện nay vắng mặt anh T nên chưa điều tra, làm rõ được, vì vậy tách ra giải quyết bằng vụ án khác khi phát sinh tranh chấp.
[4]. Về án phí: Theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự, điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội thì chị Nguyễn Thị Ngọc L phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn.
. Xét quan điểm đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
- Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228, Điều 235 của Bộ luật tố tụng dân sự;
- Các Điều 9, 51, 56, 58, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Điểm a khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Ngọc L.
Cho chị Nguyễn Thị Ngọc L được ly hôn anh Trần Văn T.
2. Về con chung: Chị L và anh T có 01 con chung là Trần Nguyễn Phúc K – sinh ngày: 22/3/2018.
Giao con chung cho chị Nguyễn Thị Ngọc L trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm thời anh Trần Văn T không phải cấp dưỡng nuôi con. Anh T có quyền qua lại thăm nom, chăm sóc con chung không ai được gây trở ngại. Vì lợi ích của con chung các bên đương sự được quyền xin thay đổi việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con.
Khi nào có tranh chấp về việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con sẽ giải quyết bằng vụ án khác.
3. Về tài sản chung, nợ chung: Tách ra giải quyết bằng vụ án khác khi phát sinh tranh chấp.
4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Ngọc L phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn. Số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) chị L đã nộp tạm ứng án phí tại biên lai thu số 0002756 ngày 04 tháng 10 năm 2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai chuyển thành án phí.
5. Quyền kháng cáo: Chị L và anh T có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
6. Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND huyện Tân Phú; - Chi cục THADS huyện Tân Phú; - Ủy ban nhân dân xã PT: Để ghi vào sổ hộ tịch (Giấy CNKH số 68, cấp ngày 09/10/2017); - Lưu HS – LT. | THAY MẶT HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Mai Văn Lợi |