vanban.org

Bản án 09/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị N được ly hôn anh Khổng Văn T.

Về quan hệ con chung: Xử giao cho anh Khổng Văn T trực tiếp nuôi 02 con chung là Khổng Minh T, sinh ngày 25/5/2009; Khổng Thị Uyển N, sinh ngày 09/12/2012, chị Nguyễn Thị N có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi 02 con chung là 1.500.000 đồng/tháng, thời gian cấp dưỡng tỉnh từ tháng 3/2023 đến khi con chung trư… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp hôn nhân gia đình giữa chị N và anh T"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị N được ly hôn anh Khổng Văn T.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN QUỲNH PHỤ
TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 09/2023/HNGĐ-ST
Ngày 24 tháng 02 năm 2023
“V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con chung”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ, TỈNH THÁI BÌNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Quốc Doanh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Đào Duy Thiều

2. Ông Đinh Thế Cần

- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Thị Gien Ny - Thư ký Toà án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lan Hướng - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 241/2022/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 10 năm 2022 về tranh chấp hôn nhân và gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 06/2023/QĐXX-ST ngày 27/01/2023, Quyết định hoãn phiên tòa số 08/2023/QĐST-HNGĐ ngày 16 tháng 02 năm 2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1990

Đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn P, xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình.

Nơi cư trú: Thôn T, xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình

- Bị đơn: Anh Khổng Văn T, sinh năm 1986

Nơi cư trú: Thôn P, xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình.

(Chị N có đơn xin xét xử vắng mặt, anh T vắng mặt không có lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN

- Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, các tài liệu chứng cứ đã xuất trình thì nguyên đơn chị Nguyễn Thị N có yêu cầu khởi kiện và trình bày tại đơn xin xét xử vắng mặt như sau:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Khổng Văn T có tự do, tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn vào ngày 06/5/2019 tại Ủy ban nhân dân xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại xã Q và lao động tự do. Quá trình chung sống đến tháng 8 năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình vợ chồng không hợp bất đồng quan điểm sống. Vợ chồng ly thân từ đó cho đến nay mỗi người sống một nơi. Nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn mục đích hôn nhân không đạt được chị đề nghị Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ giải quyết cho chị được ly hôn anh T.

Về con chung: Chị và anh T có 02 con chung là Khổng Minh T, sinh ngày 25/5/2009; Khổng Thị Uyển N, sinh ngày 09/12/2012, hiện 02 con chung đang ở cùng anh T. Ly hôn Chị N đề nghị giao 02 con cho anh T nuôi dưỡng, chị nhận cấp dưỡng nuôi 02 con chung là 1.500.000 đồng/tháng đến khi con chung trưởng thành đủ 18 tuổi.

Về tài sản chung: Chị N không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Theo bản tự khai, biên bản lấy lời khai anh Khổng Văn T trình bày như sau: Anh và Chị N có tự do tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại ủy ban nhân dân xã Q vào năm 2009. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại xã Q và lao động tự do. Quá trình chung sống không có mâu thuẫn gì lớn. Chị N đã bỏ đi từ tháng 5/2018 cho đến nay, vợ chồng đã ly thân từ đó. Nay Chị N có đơn xin ly hôn thì anh T xác định tình cảm vợ chồng không còn, anh nhất trí ly hôn với Chị N.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Khổng Minh T, sinh ngày 25/5/2009; Khổng Thị Uyển N, sinh ngày 09/12/2012, hiện 02 con chung đang ở cùng anh T. Ly hôn anh T đề nghị được nuôi 02 con chung và yêu cầu Chị N cấp dưỡng nuôi 02 con chung là 1.500.000 đồng/tháng đến khi con chung trưởng thành đủ 18 tuổi.

Về tài sản chung: Anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Tại biên bản lấy lời khai cháu Khổng Minh T trình bày: Cháu Khổng Minh T, sinh ngày 25/5/2009 là con đẻ của chị Nguyễn Thị N và anh Khổng Văn T. Hiện cháu Triết đang học lớp 8C, Trường Tiểu học và Trung học cơ sở xã Q. Nếu Chị N, anh T hôn thì cháu Triết có nguyện vọng ở cùng anh Khổng Văn T.

- Tại biên bản lấy lời khai cháu Khổng Thị Uyển N trình bày: Cháu Khổng Thị Uyển N, sinh ngày 09/12/2012 là con đẻ của chị Nguyễn Thị N và anh Khổng Văn T. Hiện cháu Nhi đang học lớp 4A, Trường Tiểu học và Trung học cơ sở xã Q. Nếu Chị N, anh T hôn thì cháu Nhi có nguyện vọng ở cùng anh Khổng Văn T.

- Tại biên bản xác minh với gia đình anh Khổng Văn T thể hiện: Chị Nguyễn Thị N và anh Khổng Văn T là vợ chồng, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Q vào ngày 06/5/2009. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống tại gia đình anh T. Quá trình chung sống vợ chồng Chị N, anh T không có mâu thuẫn gì. Chị N đã bỏ đi từ tháng 5/2018 cho đến nay. Nay Chị N có đơn xin ly hôn anh T đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Về con chung: Chị N và anh T có 02 con chung là Khổng Minh T, sinh ngày 25/5/2009; Khổng Thị Uyển N, sinh ngày 09/12/2012, hiện 02 con chung đang ở cùng anh T. Ly hôn đề nghị giao 02 con chung cho anh T nuôi dưỡng. Về tài sản chung: Chị N, anh T không có tài sản chung.

- Tại biên bản xác minh với cơ sở Thôn P, xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình thể hiện:

Chị Nguyễn Thị N và anh Khổng Văn T là vợ chồng, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Q vào ngày 06/5/2009. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống tại xã Q và lao động tự do. Quá trình chung sống vợ chồng Chị N, anh T có mâu thuẫn hay không thì cơ sở thôn không nắm rõ, Chị N đã bỏ đi từ tháng 5/2018 cho đến nay. Hiện nay Chị N và anh T đã sống ly thân. Nay Chị N có đơn xin ly hôn đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Về con chung: Chị N và anh T có 02 con chung là Khổng Minh T, sinh ngày 25/5/2009; Khổng Thị Uyển N, sinh ngày 09/12/2012, hiện 02 con chung đang ở cùng anh T, đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật. Về tài sản chung: Cơ sở thôn không nắm rõ.

- Tại phiên toà, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình có quan điểm cho rằng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án. Nguyên đơn đã chấp hành đúng pháp luật trong quá trình tham gia tố tụng. Bị đơn không tham gia tố tụng là thể hiện chấp hành chưa tốt pháp luật tố tụng dân sự. Về ý kiến giải quyết vụ án, Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 51, 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình giải quyết theo hướng: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Ngoài ra, nguyên đơn phải nộp án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Đại diện Viện kiểm sát không có yêu cầu, kiến nghị gì thêm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung giữa chị Nguyễn Thị N và anh Khổng Văn T là tranh chấp hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Bị đơn có địa chỉ thường trú tại xã Q, huyện Q nên Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự. Do Chị N có đơn xin xét xử vắng mặt, căn cứ vào khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt Chị N.

Bị đơn hiện có mặt tại địa phương đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng như: Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa… cho bị đơn nhưng bị đơn vắng mặt không có lý do. Vì vậy, Toà án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là phù hợp với quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thực hiện việc thu thập chứng cứ, xác minh về tình trạng hôn nhân, điều kiện nuôi dưỡng con chung và địa chỉ của bị đơn, vì vậy Viện kiểm sát tham gia phiên toà là đúng theo Điều 21 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: Xét thấy, quan hệ hôn nhân của Chị N, anh T được xác lập trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình vào ngày 06/5/2009 là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn và chung sống được một thời gian thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính tình không hòa hợp, bất đồng quan điểm sống. Vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 5/2018 đến nay không hỏi han, chia sẻ với nhau mỗi người sống một nơi. Quá trình Tòa án thụ lý, giải quyết vụ án, mặc dù biết được việc Chị N đề nghị ly hôn nhưng anh T không có biện pháp nào để hàn gắn quan hệ hôn nhân, mỗi người sống một nơi. Như vậy có cơ sở để xác định mâu thuẫn vợ chồng giữa Chị N, anh T đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó Hội đồng xét xử cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Chị N, xử cho chị được ly hôn anh T là phù hợp với Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về quan hệ con chung: Chị Nguyễn Thị N và anh Khổng Văn T có 02 con chung là Khổng Minh T, sinh ngày 25/5/2009; Khổng Thị Uyển N, sinh ngày 09/12/2012, hiện 02 con chung đang ở cùng anh T. Ly hôn Chị N, anh T đều thống nhất giao 02 con chung cho anh T nuôi dưỡng, Chị N nhận cấp dưỡng nuôi 02 con chung là 1.500.000 đồng/tháng đến khi con chung trưởng thành đủ 18 tuổi. Cháu T, cháu N đều có nguyện Vọng được ở cùng anh T. Xét thấy, nguyện vọng nuôi con chung của anh T là chính đáng, anh T có công việc, thu nhập ổn định. Kể từ khi vợ chồng ly thân, anh T nuôi dưỡng, chăm sóc con chung phát triển bình thường. Do đó, để đảm bảo quyền lợi tốt nhất của con chung, Hội đồng xét xử cần giao cho anh Khổng Văn T trực tiếp nuôi con Khổng Minh T, sinh ngày 25/5/2009; Khổng Thị Uyển N, sinh ngày 09/12/2012; Chị N có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi 02 con chung là 1.500.000 đồng/tháng đến khi con chung trưởng thành đủ 18 tuổi. Chị N có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị Nguyễn Thị N, anh Khổng Văn T không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.

Về án phí và quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị N phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật; các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng các Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị N được ly hôn anh Khổng Văn T.

2. Về quan hệ con chung: Xử giao cho anh Khổng Văn T trực tiếp nuôi 02 con chung là Khổng Minh T, sinh ngày 25/5/2009; Khổng Thị Uyển N, sinh ngày 09/12/2012, chị Nguyễn Thị N có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi 02 con chung là 1.500.000 đồng/tháng, thời gian cấp dưỡng tỉnh từ tháng 3/2023 đến khi con chung trưởng thành đủ 18 tuổi. Chị N có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung.

Hai bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, yêu cầu thay đổi về cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

3. Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: Không đặt ra giải quyết.

4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị N phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm và 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí cấp dưỡng nuôi con. Số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) Chị N đã nộp theo Biên lai thu số 0004868 ngày 24/10/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình được chuyển thành tiền án phí ly hôn sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị N, anh Khổng Văn T có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết hợp lệ bản án./.

Cỡ chữ