vanban.org

Bản án 09/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hồ Thị H.

Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Hồ Thị H được ly hôn anh Lê Tiến C. Về con chung: Giao con chung Lê Thị B, sinh ngày 28/01/2005 cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Hồ Thị H xin ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hồ Thị H.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

P
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN QUỲNH LƯU
TỈNH NGHỆ AN
Bản án số: 09/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 22/02/2023
V/v:“Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH LƯU, TỈNH NGHỆ AN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Nghệ

Các hội thẩm nhân dân: Bà Phan Thị Đóa và bà Lê Thị Thanh Thủy.

Thư ký phiên toà: Bà Hồ Thị Tình -Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Ngô Thị Phương Quỳnh - Kiểm sát viên.

Trong ngày 22 tháng 02 năm 2022, tại trụ sở toà án nhân dân huyện Quỳnh Lưu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 329/2022/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 11 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 05/2023/QĐXXST - HNGĐ ngày 03 tháng 02 năm 2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Hồ Thị H, sinh năm 1968. Có mặt.

Nơi cư trú: Thôn A, xã T, huyện L, tỉnh Nghệ An.

- Bị đơn: Anh Lê Tiến C, sinh năm 1968. Vắng mặt

Nơi cư trú: Thôn A, xã T, huyện L, tỉnh Nghệ An.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 26/10/2022, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn chị Hồ Thị H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Lê Tiến C có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện L, tỉnh Nghệ An vào ngày 24/11/1987. Kết hôn là tự nguyện, không ai ép buộc. Ngày đăng ký kết hôn cũng là ngày tổ chức đám cưới theo phong tục tập quán. Qua thời gian dài cất giữ không cẩn thận nên bị mất giấy đăng ký kết hôn và sổ sách tại UBND xã T không còn lưu giữ nên không cấp trích lục kết hôn. Đến ngày 24/10/2022 chị và anh C đến UBND xã T để đăng ký kết hôn lại. Quá trình chung sống sau khi kết hôn thì vợ chồng yêu thương, hòa thuận đến năm 2015 xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do anh C thường xuyên rượu chè, say xỉn đánh đập chị vô cớ, dẫn đến vợ chồng to tiếng cãi vã nhau. Chị H đã cố gắng chịu đựng nhiều năm, nhưng bản thân nay cũng đã có tuổi không thể chịu đựng mãi cảnh bạo lực gia đình. Mâu thuẫn vợ chồng đã được thôn trưởng, phụ nữ thôn và các con hòa giải nhưng anh C không thay đổi. Chị H đã thuê nhà ra ở riêng từ tháng 10/2022 nên vợ chồng đã sống ly thân. Nay chị H xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân không hạnh phúc, vợ chồng không thể chung sống với nhau được nữa, chị H xin ly hôn anh Lê Tiến C.

Về con chung: Vợ chồng có 04 con chung là Lê Thị H, sinh ngày 01/8/1991; Lê Thị H, sinh ngày 21/4/1994; Lê Tiến H, sinh ngày 01/8/1996 và Lê Thị B, sinh ngày 28/01/2005. Các con Lê Thị H, Lê Thị H2, Lê Tiến H đã trưởng thành lập gia đình riêng ở với ai do các con quyết định; Ly hôn chị H xin trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Lê Thị B, chị không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con

Về tài sản chung: Chị H không yêu cầu Toà án giải quyết.

Quá trình giải quyết Tòa án tống đạt hợp lệ đơn khởi kiện và các tài liệu khởi kiện, giấy báo đương sự, thông báo về việc thụ lý vụ án, thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, thông báo hoãn, thông báo kết quả phiên họp, Quyết định đưa vụ án ra xét xử lần thứ nhất, Quyết định hoãn phiên tòa, Quyết định xét xử lần thứ hai cho bị đơn anh Lê Tiến C, nhưng anh C cố tình vắng mặt, không có ý kiến gửi Tòa án.

Anh Lê Tiến H trình bày: Bố mẹ anh là ông Lê Tiến C và bà Hồ Thị H. Ông C thường xuyên ở địa phương, ông C là thợ xây, có khi đi xây công trình gần thì về nhà hàng ngày, có khi đi công trình ngoài huyện thì một tháng về nhà một lần. Hiện nay ông C đang đi xây công trình ở thành phố V. Quá trình chung sống bố mẹ anh không có mâu thuẫn nghiêm trọng, do bố anh uống rượu thỉnh thoảng có say xỉn về nhà nói chuyện thì bà H không nhường nhịn mà chấp lời nói của người say nên ông C bức xúc thường xuyên đánh đá và tát bà H nhưng không để lại thương tích. Hiện nay ông C và bà H đã sống ly thân, bà H đã thuê nhà dọn ra ở riêng. Ông C và bà H có 04 người con là Lê Thị H, Lê Thị H2, Lê Tiến H và Lê Thị B. Hiện nay các con H, H2, H đã trưởng thành lập gia đình riêng, Lê Thị B đã bỏ học đi làm. Mâu thuẫn giữa ông C và bà H đã được các con hòa giải nhưng do mỗi người một tính nên không có kết quả, bà H cương quyết muốn ly hôn ông C. Nay anh đề nghị Tòa án hòa giải cho ông C và bà H về ở với nhau.

Cháu Lê Thị B trình bày nguyện vọng xin được ở với mẹ là chị Hồ Thị H.

Kết quả xác minh tại UBND xã T: Anh Lê Tiến C hiện nay đang có hộ khẩu thường trú tại xã T, huyện L, tỉnh Nghệ An, nay anh C đang có mặt tại địa phương, làm thợ xây. Chị Hồ Thị H và anh Lê Tiến C có đăng ký kết hôn tại UBND xã T ngày 24/10/2022. Quan hệ hôn nhân giữa chị Hồ Thị H và anh Lê Tiến C được xác lập vào ngày 24/11/1987, do sổ sách tại UBND xã T không còn lưu nên năm 2022 chị H và C làm thủ tục đăng ký kết hôn lại. Quá trình chung sống vợ chồng chị H và anh C có mâu thuẫn như thế nào địa phương không nắm rõ vì không qua hòa giải tại cơ sở. Hiện nay chị H và anh C đang sống ly thân. Chị H và anh C có 04 con chung là Lê Thị H, sinh ngày 01/8/1991; Lê Thị H2, sinh ngày 21/4/1994; Lê Tiến H, sinh ngày 01/8/1996 và Lê Thị B, sinh ngày 28/01/2005. Nay chị H yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn và tranh chấp nuôi con thì đề nghị giải quyết theo quy định pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Lưu phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Hội đồng xét xử đã tuân, thư ký phiên tòa đã tuân thủ các quy định của BLTTDS. Từ khi thụ lý, nguyên đơn đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, 71 BLTTDS. Bị đơn đã cố tình vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án gây khó khăn cho việc giải quyết vụ án.

Về nội dung: Áp dụng các Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016;

Về tình cảm: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hồ Thị H. Cho chị Hồ Thị H được ly hôn anh Lê Tiến C.

Về con chung: Giao con chung Lê Thị B, sinh ngày 28/01/2005 cho chị Hồ Thị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con vì chị H không yêu cầu.

Về tài sản: Không ai yêu cầu Tòa án giải quyết nên Tòa án không giải quyết trong vụ án này.

Về án phí: Chị Hồ Thị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có tại hồ sơ, được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định.

Về tố tụng:

Chị Hồ Thị H có đơn đề nghị Tòa án giải quyết việc ly hôn với anh Lê Tiến C, có nguyện vọng nuôi con chung, đây là vụ án “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”. Anh Lê Tiến C có hộ khẩu thường trú tại thôn A, xã T, huyện L, tỉnh Nghệ An. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An.

Về việc xét xử vắng mặt: Bị đơn đã được Tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử lần thứ nhất, Quyết định hoãn phiên tòa, Quyết định xét xử lần thứ hai nhưng đều vắng mặt không có lý do. Vì vậy, căn cứ vào khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa chị H và anh C là hợp pháp, tuân thủ các điều kiện kết hôn theo quy định của pháp luật. Quá trình chung sống giữa chị H và anh C có xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh C thường xuyên rượu chè say xỉn đánh đập chị H, hiện nay anh C và chị H đã sống ly thân. Quá trình giải quyết anh C trốn tránh không trực tiếp đến Tòa án để trình bày ý kiến, tham gia hòa giải chứng tỏ anh không tích cực trong việc níu giữ hôn nhân, điều đó chứng minh tình trạng hôn nhân giữa chị H và anh C đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó cần áp dụng Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 cho chị Hồ Thị H được ly hôn anh Lê Tiến C.

Về con chung: Xét nguyện vọng xin được nuôi con của chị H là chính đáng. Cháu B cũng có nguyện vọng xin được ở với chị H. Chị H cũng có việc làm và có thu nhập, cháu B đã đủ tuổi lao động đã đi làm có thu nhập nên việc cháu B ở với chị H cũng đảm bảo điều kiện sống. Con gái ở với mẹ sẽ phù hợp hơn trong phát triển mọi mặt về tâm sinh lý. Căn cứ vào Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình, chấp nhận nguyện vọng của chị H. Giao con chung là Lê Thị B cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng. Chị H chưa yêu cầu anh C đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung nên miễn xét. Các con Lê Thị H, Lê Thị H2, Lê Tiến H đã trưởng thành lập gia đình riêng ở với ai do các con quyết định

Về tài sản: Không ai yêu cầu Tòa án giải quyết nên miễn xét

Về án phí: Chị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bởi các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; khoản 2 Điều 227; Khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự 2015;

Căn cứ vào Điều 51; Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân gia đình năm 2014;

Căn cứ Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hồ Thị H.

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Hồ Thị H được ly hôn anh Lê Tiến C.

2. Về con chung: Giao con chung Lê Thị B, sinh ngày 28/01/2005 cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng.

Tạm hoãn việc đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung cho anh C vì chị H chưa yêu cầu.

Anh C có quyền, nghĩa vụ đi lại thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

3. Về tài sản: Không ai yêu cầu giải quyết nên miễn xét.

4. Về án phí: Chị Hồ Thị H phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm. Được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) chị H đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Quỳnh Lưu theo biên lai số 0012597 ngày 31/10/2022.

5. Quyền kháng cáo: Chị Hồ Thị H có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, anh Lê Tiến C có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản sao bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.

Cỡ chữ