vanban.org

Bản án 09/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Dương Thị Y xin ly hôn anh Đặng Văn M.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Dương Thị Y được ly hôn anh Đặng Văn M. Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Đặng Dương Thái S, sinh ngày 02/7/2009 và Đặng Xuân T1, sinh n gày 23/9/2015. Giao 02 con chung cho chị Y trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung đối với anh Đặng… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hôn nhân và gia đình"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Dương Thị Y xin ly hôn anh Đặng Văn M.
  • Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHÚ LƯƠNG
TỈNH THÁI NGUYÊN
———————

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 09/2023/HNGĐ-ST
Ngày 20/4/2023
V/v Kiện xin ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ LƯƠNG, TỈNH THÁI NGUYÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Ngọc Linh.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Ngọc Ngư.

2. Bà Bàn Thị Thu Phương.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Mạnh, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Lương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lương tham gia phiên tòa: Ông Triệu Đức Hoàng, Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Lương xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 24/2023/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 02 năm 2023 về việc Kiện xin ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 12/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 3 năm 2023, giữa:

- Nguyên đơn: Chị Dương Thị Y, sinh năm 1993

Trú tại: Xóm G, xã Y, huyện P, tỉnh T.

- Bị đơn: Anh Đặng Văn M, sinh năm 1984

Trú tại: Xóm G, xã Y, huyện P, tỉnh T.

Hiện đang cải tạo tại đội M, phân trại số H, Trại giam V.

(Nguyên đơn có mặt; bị đơn vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, tại phiên tòa, nguyên đơn chị Dương Thị Y trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị kết hôn với anh Đặng Văn M năm 2010, trước khi kết hôn được tự nguyện tìm hiểu trong thời gian ngắn, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Động Đạt, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên ngày 21/7/2011. Sau khi kết hôn vợ chồng sống chung với gia đình nhà chồng tại xóm Gốc Vải, xã Yên Đổ khoảng 03 tháng vợ chồng làm nhà ra ở riêng trên đất của bố mẹ chồng. Sau khi chung sống khoảng 03 năm thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do không hợp nhau. Anh M thường xuyên chơi bời, nghiện ngập, vướng vào tệ nạn xã hội. Chị và gia đình đã khuyên ngăn anh M nhiều lần nhưng anh M vẫn chứng nào tật đấy, không thay đổi. Vợ chồng làm ăn thua lỗ, do anh M chơi bời nên vợ chồng phải bán nhà, dẫn đến mâu thuẫn về kinh tế. Đến tháng 5/2021 anh M cai nghiện tự nguyện tại Đồng Hỷ 01 năm; sau khi về, đến khoảng tháng 11/2022 anh M lại bị bắt về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, án phạt 18 tháng tù giam. Hiện anh M đang cải tạo tại Trại giam Vĩnh Quang, Vĩnh Phúc. Vợ chồng sống ly thân khoảng 02 năm nay. Chị xác định không còn tình cảm, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh M.

- Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Đặng Dương Thái S, sinh ngày 02/7/2009 và Đặng Xuân T1, sinh ngày 23/9/2015. Hiện cả hai con đang ở với chị Y. Chị Y có nguyện vọng được nuôi cả hai con, vì hiện tại anh M đang cải tạo trong trại giam, chị không yêu cầu anh M cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết.

- Nợ chung: Không có.

Tại Bản tự khai ngày 21/3/2023, bị đơn anh Đặng Văn M trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Anh kết hôn với chị Y năm 2010, sinh sống và làm ăn tại xóm Gốc Vải, xã Yên Đổ, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên trên cơ sở tự nguyện yêu đương, tự nguyện tìm hiểu. Đến năm 2021 vợ chồng thường xảy ra mâu thuẫn trong sinh hoạt hàng ngày, nguyên nhân do chị Y có mối quan hệ ngoài tình cảm vợ chồng nên vợ chồng mâu thuẫn và không tìm được tiếng nói chung. Tuy nhiên, anh không đồng ý ly hôn.

- Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Đặng Dương Thái S, sinh ngày 02/7/2009 và Đặng Xuân T1, sinh n gày 23/9/2015. Sau khi ly hôn anh nhất trí cho hai con ở với mẹ để mẹ chăm sóc.

- Về tài sản chung: Không có.

- Về nợ chung: Không có.

Quá trình giải quyết vụ án, do anh Đặng Văn M đang cải tạo tại Trại giam Vĩnh Quang nên không thể tham gia hòa giải được. Toà án đã tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ vào ngày 28/3/2023 và quyết định đưa vụ án ra xét xử tại phiên tòa công khai.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lương tỉnh Thái Nguyên phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, sự tuân theo pháp luật của những người tham gia tố tụng và ý kiến về việc giải quyết vụ án:

- Về tố tụng: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án và tại phiên tòa đã thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

- Về nội dung: Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, các Điều 147, 227, 228, 271 và Điều 273 của BLTTDS năm 2015; Căn cứ vào các Điều 51, 52, 56, 58, 81, 82, và điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Đề nghị HĐXX: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Dương Thị Y xin ly hôn anh Đặng Văn M.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Dương Thị Y được ly hôn anh Đặng Văn M.

Về con chung: Giao 02 con chung là Đặng Dương Thái S, sinh ngày 02/7/2009 và Đặng Xuân T1, sinh ngày 23/9/2015 cho chị Y trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung đối với anh M do chị Y không có yêu cầu.

Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết.

Nợ chung: Không có.

Về án phí: Chị Y chịu án phí và các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

- Về thẩm quyền giải quyết: Đây là vụ án tranh chấp về hôn nhân và gia đình về việc ly hôn, bị đơn anh Đặng Văn M có nơi cư trú đăng ký HKTT tại xóm Gốc Vải, xã Yên Đổ, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 BLTTDS vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên.

- Về sự vắng mặt của bị đơn tại phiên toà: Tại Đơn xin xét xử vắng mặt và Bản tự khai ngày 21/3/2023 của anh Đặng Văn M có xác nhận của Trại giam Vĩnh Quang xác định, anh Đặng Văn M hiện đang cải tạo tại Trại giam Vĩnh Quang. Quá trình giải quyết vụ án, Toà án nhân dân huyện Phú Lương đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh Đặng Văn M, căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Toà án xét xử vắng mặt bị đơn.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Dương Thị Y và anh Đặng Văn M kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật (theo Giấy chứng nhận kết hôn số 77 ngày 21/7/2011 của UBND xã Động Đạt, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên). Vì vậy được xác định là hôn nhân hợp pháp. Trong quá trình chung sống vợ chồng mâu thuẫn từ năm 2021 do bất đồng về quan điểm sống. Quá tình chung sống anh M nghiện ma túy, chị khuyên giải nhiều lần nhưng anh M không từ bỏ được. Sau đó anh M phạm tội và phải đi cải tạo, vợ chồng sống ly thân từ đó đến nay, không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Y cho chị Y được ly hôn với anh M là phù hợp với thực tế và quy định pháp luật.

Về con chung: Vợ chồng chị Y, anh M có 02 con chung là Đặng Dương Thái S, sinh ngày 02/7/2009 và Đặng Xuân T1, sinh ngày 23/9/2015, hiện đang ở với mẹ là chị Dương Thị Y. Tại đơn trình bày nguyện vọng, cháu Sơn, cháu Tần đều có nguyện vọng muốn ở với mẹ. Tại bản tự khai và tại phiên tòa, chị Y đều có nguyện vọng muốn nuôi con, chị xác định đủ điều kiện kinh tế để nuôi con và không yêu cầu anh M cấp dưỡng nuôi con chung. Anh M cũng nhất trí giao cho cho chị Y trực tiếp nuôi dưỡng. Hiện anh M đang chấp hành án tại Trại giam Vĩnh Quang nên việc giao con cho chị Y trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc là phù hợp với nguyện vọng và quyền lợi về mọi mặt của con. Chị Y không yêu cầu anh M cấp dưỡng nuôi con chung nên HĐXX không xem xét giải quyết.

Về tài sản chung: Trong quá trình giải quyết vụ án chị Y, anh M không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét giải quyết trong vụ án này.

Về nợ chung: Các đương sự xác định không có nợ chung, không yêu cầu giải quyết nên HĐXX không xem xét.

Về án phí: Chị Y phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Xét thấy đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lương là có căn cứ chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 264 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Dương Thị Y xin ly hôn anh Đặng Văn M.

Áp dụng khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, các Điều 147, 227, 228, 271 và Điều 273 của BLTTDS năm 2015; Điều 51, 52, 56, 58, 81, 82 và điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Dương Thị Y được ly hôn anh Đặng Văn M.

2. Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Đặng Dương Thái S, sinh ngày 02/7/2009 và Đặng Xuân T1, sinh n gày 23/9/2015. Giao 02 con chung cho chị Y trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung đối với anh Đặng Văn M. Anh M có quyền đi lại thăm nom con chung.

3. Về tài sản chung: Các đương sự không có yêu cầu.

4. Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.

5. Về án phí: Chị Dương Thị Y phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000 đồng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp biên lai thu số 0003625 ngày 24/02/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Phú Lương.

6. Quyền kháng cáo: Thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án đối với nguyên đơn, kể từ ngày nhận được bản án đối với bị đơn./.

Cỡ chữ