- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "án hôn nhân gia đình"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hoàng Thị G.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHĨA ĐÀN TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 09/2023/HNGĐ-ST Ngày: 24/02/2023 V/v “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHĨA ĐÀN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hương
Các Hội thẩm nhân dân:bà Nguyễn Thị Thanh và ông Phan Sỹ Hùng
- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thùy Trang
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghĩa Đàn tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thuỳ Linh - Kiểm sát viên
Trong ngày 24 tháng 02 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Đàn xét xử sơ thẩm công khai sơ thẩm vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 262/2022/TLST - HNGĐ ngày 01 tháng 12 năm 2022 về yêu cầu “ Ly hôn, tranh chấp nuôi con”
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 05/2023/QĐXXST- HNGĐ ngày 10 tháng 01 năm 2023 và quyết định hoãn phiên toà số 04/QĐHPT- HNGĐST ngày 27 tháng 01 năm 2023 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: chị Hoàng Thị G - sinh năm 1996
Nơi ĐKNKTT: xóm H - xã Nghĩa H - huyện Nghĩa Đàn- Tỉnh Nghệ An.
Chỗ ở hiện nay: xóm T- xã Nghĩa L - huyện Nghĩa Đàn- Tỉnh Nghệ An. (có mặt).
2. Bị đơn: anh Trần Minh K - sinh năm 1989
Địa chỉ: xóm H - xã Nghĩa H - huyện Nghĩa Đàn- Tỉnh Nghệ An (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Hoàng Thị G trình bày:
Về hôn nhân: Chị và anh Trần Minh K kết hôn với nhau vào ngày 30 tháng 10 năm 2015 tại ủy ban nhân dân xã Nghĩa H - huyện Nghĩa Đàn- tỉnh Nghệ An. Hôn nhân được xác lập trên cơ sở tự nguyện và hợp pháp. Sau khi kết hôn anh chị chung sống hạnh phúc với nhau một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn chủ yếu là do tính tình không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, anh K hay ghen tuông vô cớ, vợ chồng không tôn trọng nhau, dẫn đến mất tình cảm, đã sống ly thân nhau từ tháng 8 năm 2021 đến nay, không còn quan tâm đến nhau nữa. Nay chị G yêu cầu được ly hôn với anh Trần Minh K.
Về con chung: Chị và anh Trần Minh K có một con chung là Trần Khánh A, sinh ngày 12 tháng 9 năm 2017. Ly hôn chị G có nguyện vọng được nuôi con và không yêu cầu anh K phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: chị G không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với bị đơn là anh Trần Minh K:
Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã thông báo cho anh K biết, đồng thời tống đạt các tài liệu, giấy triệu tập hợp lệ cho anh K nhưng anh K vẫn không có mặt để giải quyết vụ án. Tòa án đã tiến xác minh và tiến hành niêm yết các tài liệu, chứng cứ tại địa phương nơi anh K cư trú theo đúng quy định tại điều 179 Bộ luật tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Nghĩa Đàn phát biểu ý kiến:
- Về tố tụng: Tòa án đã thu thập chứng cứ đúng theo quy định của pháp luật.
- Về việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký tòa án: Hội đồng xét xử đã tuân theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án; Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định tại điều 51, điều 236, điều 237 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về việc chấp hành pháp luật của đương sự: Nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định của pháp luật
- Về quan điểm giải quyết vụ án đề nghị hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hoàng Thị G là cho ly hôn với anh Trần Minh K; Việc nuôi con: đề nghị hội đồng xét xử giao con chung là Trần Khánh A, sinh ngày 12 tháng 9 năm 2017 cho chị G trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi con chung đã trưởng thành; Về án phí: chị Hoàng Thị G phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng:
- Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn chị Hoàng Thị G có hộ khẩu thường trú tại xóm H - xã Nghĩa H- huyện Nghĩa Đàn - Tỉnh Nghệ An và chỗ ở hiện nay là xóm T- xã Nghĩa L- huyện Nghĩa Đàn- tỉnh Nghệ An yêu cầu ly hôn với anh Trần Minh K là bị đơn có nơi cư trú tại xóm H - xã Nghĩa H - huyện Nghĩa Đàn- Tỉnh Nghệ An do đó thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Đàn theo quy định tại khoản 1 điều 28, điểm a khoản 1 điều 35; điểm a khoản 1 điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự;
- Về việc xét xử vắng mặt của bị đơn: Bị đơn anh Trần Minh K có hộ khẩu thường trú tại xóm H - xã Nghĩa H - huyện Nghĩa Đàn- tỉnh Nghệ An quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã thông báo cho anh K biết, đồng thời đã tống đạt các tài liệu, giấy triệu tập hợp lệ cho thân nhân của anh K, quá trình xác minh thì được biết sau khi nhận giấy báo của Toà án anh K biết thời gian, địa điểm đến Toà án để giải quyết vụ án nhưng anh K không đến và không có ý kiến gì. Toà án đã tiến hành xác minh và niêm yết các tài liệu, giấy triệu tập và các chứng cứ tại địa phương nơi anh K cư trú theo đúng quy định tại điều 179 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung
2.1. Về quan hệ hôn nhân: chị Hoàng Thị G và anh Trần Minh K kết hôn với nhau trên sơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn vào ngày 30 tháng 10 năm 2015 tại ủy ban nhân dân xã Nghĩa H - huyện Nghĩa Đàn- Tỉnh Nghệ An là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn anh chị chung sống hạnh phúc với nhau một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn chủ yếu là do tính tình không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không còn tôn trọng nhau, không còn tình cảm với nhau nên đã sống ly thân nhau từ tháng 8 năm 2021 đến nay, không còn quan tâm đến nhau nữa. Xét thấy tình cảm giữa chị G và anh K không còn, mâu thuẫn đã trở nên trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Hoàng Thị G.
2.2. Về con chung: chị Hoàng Thị G và anh Trần Minh K có một con chung là Trần Khánh A, sinh ngày 12 tháng 9 năm 2017. Chị G có nguyện vọng được nuôi con vì từ ngày anh chị sống ly thân nhau con ở với chị G, hiện tại có cuộc sống ổn định. Để đảm bảo quyền lợi cho con chung hội đồng xét xử thấy rằng cần giao con chung là Trần Khánh A cho chị G trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục là phù hợp.
2.3. Về việc cấp dưỡng nuôi con chung: Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung cho anh K do chị G không yêu cầu.
2.4. Về tài sản chung, nợ chung: chị Hoàng Thị G không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
. Về án phí: chị Hoàng Thị G phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 điều 28, điểm a khoản 1 điều 35, điểm a khoản 1 điều 39; điểm b khoản 2 điều 227, điểm b khoản 1 điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 điều 51; khoản 1 điều 56; điều 58, điều 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hoàng Thị G.
1.Về hôn nhân: Cho chị Hoàng Thị G ly hôn với anh Trần Minh K.
2.Việc nuôi con: Giao con chung là Trần Khánh A, sinh ngày 12 tháng 9 năm 2017 cho chị G trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi con chung đã thành niên. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung cho anh K do chị G không yêu cầu.
Anh K có quyền và nghĩa vụ đi lại thăm nom con chung không ai được cản trở. Vì lợi ích mọi mặt của con chung khi có căn cứ hoặc có lý do chính đáng theo quy định của pháp luật thì có thể yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc yêu cầu cấp dưỡng, mức cấp dưỡng nuôi con.
3. Về án phí: Căn cứ vào khoản 4 điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án chị Hoàng Thị G phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được khấu trừ số tiền tạm ứng đã nộp tại biên lai thu tiền số 0005924 ngày 01 tháng 12 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nghĩa Đàn.
4. Nguyên đơn chị Hoàng Thị G có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn anh Trần Minh K có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - Các đương sự - VKSND h. Nghĩa Đàn - Chi cục THADS h. Nghĩa Đàn - TAND tỉnh Nghệ An - UBND xã Nghĩa H - h. Nghĩa Đàn. - Lưu hồ sơ vụ án | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Thu Hương |