vanban.org

Bản án 09/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Huỳnh Thị Kim T.

[1]. Về hôn nhân: Chị Huỳnh Thị Kim T được ly hôn với anh Nguyễn Duy B. [2]. Về con chung: Chị T và anh B có 01 con chung là Nguyễn Huỳnh Duy B2, sinh ngày 12/6/2018. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp hôn nhân và gia đình"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Huỳnh Thị Kim T.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN KRÔNG ANA
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 09/2023/HNGĐ-ST
Ngày 15 tháng 5 năm 2023
V/v Tranh chấp hôn nhân và gia đình

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG ANA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Anh Tuấn.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Thế Chiến, Ông Vũ Kim Quy.

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Văn Lợi - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Krông Ana.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Ana tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Huy - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 5 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện K, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 230/2022/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 12 năm 2022 về “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 13/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 4 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 12/2023/QĐST-HNGĐ ngày 28 tháng 4 năm 2023, giữa các đương sự:

1/ Nguyên đơn: Chị Huỳnh Thị Kim T, sinh năm 1995. Vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.

Địa chỉ: Khu phố P, thị trấn P1, huyện T, tỉnh Bình Thuận.

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Duy B, sinh năm 1989. Vắng mặt lần thứ 02 không có lý do.

Địa chỉ: Số 26 đường H, thị trấn B1, huyện K, tỉnh Đắk Lắk.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện đề ngày 31/10/2022 và trong quá trình tham gia tố tụng nguyên đơn chị Huỳnh Thị Kim T trình bày:

Chị T kết hôn với anh Nguyễn Duy B vào năm 2018, trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn tại UBND xã P, huyện T1, tỉnh Bình Thuận vào ngày 14/11/2019 (đăng ký sau hôn nhân). Sau khi kết hôn, anh chị cư trú tại số 26 đường H, thị trấn B1, huyện K được 01 năm, sau đó vợ chồng vào Tp. H1 tạm trú để làm ăn. Năm 2020 anh chị phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do không hòa hợp, bất đồng quan điểm, anh B không quan tâm đến vợ con, vợ chồng cãi nhau về tiền bạc, sự việc xảy ra nhiều lần, làm cho mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng. Sau đó, anh B dẫn con về nhà bố mẹ đẻ ở thị trấn B, huyện K sinh sống, còn chị T về nhà bố mẹ đẻ của mình ở huyện T1, tỉnh Bình Thuận sinh sống, hai người ly thân từ năm 2020 đến nay. Nhận thấy giữa chị và anh B không còn tình cảm, không còn thương yêu nhau, nên chị T yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Nguyễn Duy B.

Về con chung: Chị T và anh B có 01 con chung là Nguyễn Huỳnh Duy B2, sinh ngày 12/6/2018, hiện đang sống với anh B. Khi ly hôn, chị T đồng ý để anh B trực tiếp nuôi dưỡng con chung, chị không có ý kiến gì.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có.

* Bị đơn anh Nguyễn Duy B, quá trình giải quyết vụ án cho đến tại phiên tòa hôm nay đều vắng mặt không có lý do, mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ.

Tại phiên tòa Kiểm sát viên phát biểu việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa đảm bảo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình; bị đơn anh Nguyễn Duy B không thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 228; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 56; 81; 82; 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

+ Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Huỳnh Thị Kim T, chị T được ly hôn với anh Nguyễn Duy B.

+ Về con chung: Chị T và anh B có 01 con chung là Nguyễn Huỳnh Duy B2, sinh ngày 12/6/2018. Nhận thấy cháu B2 đang được anh B và gia đình trực tiếp nuôi dưỡng nên cần tiếp tục giao cháu cho anh B trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc đến khi thành niên là phù hợp với điều kiện thực tế và đúng quy định của pháp luật.

Chị T có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai được cản trở.

+ Về cấp dưỡng nuôi con chung: Buộc chị T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung là 1.000.000đ/tháng cho đến khi cháu B2 đủ tuổi thành niên.

+ Về tài sản chung: Nguyên đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đề cập.

+ Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, nguyên đơn chị T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm về cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị Huỳnh Thị Kim T có đơn khởi kiện ly hôn anh Nguyễn Duy B. Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”. Bị đơn anh Nguyễn Duy B trú tại thị trấn B1, huyện K, tỉnh Đắk Lắk. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện K, tỉnh Đắk Lắk.

Về thủ tục tố tụng: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ cho các đương sự để tham gia tố tụng, thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật. Nguyên đơn chị Huỳnh Thị Kim T có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn anh Nguyễn Duy B vắng mặt trong quá trình tham gia tố tụng và tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự vẫn tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định của pháp luật.

Về các yêu cầu của đương sự:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Huỳnh Thị Kim T và anh Nguyễn Duy B đăng ký kết hôn tại UBND xã P, huyện T1, tỉnh Bình Thuận vào ngày 14/11/2019, là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm, không hòa hợp. Anh chị đã sống ly thân nhiều năm nay.

Qua kết quả xác minh tại chính quyền địa phương, vợ chồng anh B, chị T đã phát sinh mâu thuẫn, hiện hai người đã sống ly thân.

Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn giữa chị T và anh B đã trầm trọng và kéo dài, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị T, chị T được ly hôn với anh B là phù hợp.

- Về con chung: Chị T và anh B có 01 con chung là Nguyễn Huỳnh Duy B2, sinh ngày 12/6/2018. Khi ly hôn, chị T không tranh chấp về việc nuôi dưỡng con chung, đồng ý để anh B trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Nhận thấy cháu B2 đang được anh B trực tiếp nuôi dưỡng nên cần tiếp tục giao cháu B2 cho anh B trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc đến khi thành niên là phù hợp.

Chị T có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai được cản trở.

- Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Huỳnh Thị Kim T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho cháu Nguyễn Huỳnh Duy B2, sinh ngày 12/6/2018, m i tháng là 1.000.000 đồng cho đến khi cháu đủ tuổi thành niên.

- Về tài sản chung: Nguyên đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ, đúng pháp luật nên cần chấp nhận.

Về án phí: Nguyên đơn chị Huỳnh Thị Kim T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm về cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 228; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 56; 81; 82; 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Huỳnh Thị Kim T.

[1]. Về hôn nhân: Chị Huỳnh Thị Kim T được ly hôn với anh Nguyễn Duy B.

[2]. Về con chung: Chị T và anh B có 01 con chung là Nguyễn Huỳnh Duy B2, sinh ngày 12/6/2018.

Giao cháu Nguyễn Huỳnh Duy B2, sinh ngày 12/6/2018 cho anh Nguyễn Duy B trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến khi cháu đủ tuổi thành niên.

Chị T có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung và không ai được cản trở.

[3]. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Huỳnh Thị Kim T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho cháu Nguyễn Huỳnh Duy B2, sinh ngày 12/6/2018, m i tháng là 1.000.000đ (một triệu đồng) cho đến khi cháu B2 đủ tuổi thành niên.

[4]. Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[5]. Về án phí: Chị Huỳnh Thị Kim T phải chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm và 300.000đ án phí dân sự về cấp dưỡng nuôi con chung, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Krông Ana, biên lai số 15258 ngày 06 tháng 12 năm 2022. Chị Huỳnh Thị Kim T còn phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt bản án hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì Người được thi hành án dân sự, Người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ