vanban.org

Bản án 09/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — ""Ly hôn, tranh chấp nuôi con""
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HẢI LĂNG
TỈNH QUẢNG TRỊ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 09/2023/HNGĐ-ST
Ngày 05/4/2023
“V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi
con”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI LĂNG, TỈNH QUẢNG TRỊ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Thanh Khánh

Các Hội thẩm nhân dân:

+ Bà Trương Thị Kim Anh

+ Ông Thái Văn Tuấn

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huyên - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hải Lăng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hải Lăng tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Thùy Dương - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 4 năm 2023, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 59/2022/TLST - HNGĐ ngày 03 tháng 10 năm 2022 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2023/QĐXX-HNGĐ ngày 06 tháng 02 năm 2023, Quyết định hoãn phiên tòa số 05/2023/QĐXX-HNGĐ ngày 24/02/2023 và Thông báo về việc hoãn phiên tòa số 01/TB-TA ngày 16/3/2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Nguyễn P, sinh năm 1972; địa chỉ: Thôn P, xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị, vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Bị đơn: Chị Hoàng Thị T, sinh năm 1977; địa chỉ: Thôn P, xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 26 tháng 9 năm 2022 và bản tự khai ngày 04 tháng 10 năm 2022, anh Nguyễn P trình bày: Về quan hệ hôn nhân, anh và chị Hoàng Thị T kết hôn trên cơ sở tự nguyện vào ngày 13/3/2000 tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện H tỉnh Quảng Trị. Sau khi kết hôn, hai vợ chồng chung sống hạnh phúc được 10 năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do chị T cờ bạc, số đề nhiều lần và không chịu thay đổi. Anh P xác định tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn chị Hoàng Thị T.

Về nuôi con chung: Vợ chồng có hai con chung là cháu Nguyễn Duy N, sinh ngày 20 tháng 10 năm 2000 và cháu Nguyễn Thị Quỳnh A, sinh ngày 11 tháng 4 năm 2008. Cháu Nguyễn Duy N đã thành niên và có khả năng lao động nên anh P không yêu cầu Tòa án giải quyết. Anh P có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Nguyễn Thị Quỳnh A và không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Chị Hoàng Thị T đã được tống đạt đầy đủ và hợp lệ tất cả các văn bản tố tụng nhưng không nộp cho Tòa án văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu của nguyên đơn và không đến Tòa án làm việc.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Lăng phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án đã thực hiện đúng quy định tại các Điều 28, 35, 39, 68, 96, 97, 175, 177, 178, 195, 196, 203, 220 của Bộ luật Tố tụng dân sự, cụ thể: Xác định đúng thẩm quyền thụ lý, quan hệ tranh chấp, tư cách tham gia tố tụng, xác minh, thu thập chứng cứ; thực hiện việc tống đạt đúng và đầy đủ các văn bản tố tụng, tuân thủ quy định của pháp luật về thời hạn thụ lý vụ án, thời hạn chuẩn bị xét xử và thực hiện việc chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát trước khi tham gia phiên tòa.

Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký tại phiên tòa: Hội đồng xét xử, Thư ký đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án.

Việc tuân theo pháp luật tố tụng của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Nguyên đơn đã thực hiện đúng các quy định tại các Điều 70, 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn chưa thực hiện đúng các quy định tại các Điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết vụ án: Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa anh P và chị T là trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt, đời sống chung không thể kéo dài. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu khởi kiện, cho anh Nguyễn P được ly hôn chị Hoàng Thị T.

Về nuôi con chung: Cháu Nguyễn Duy N đã thành niên và có khả năng lao động, anh P không yêu cầu giải quyết nên không xem xét. Giao cháu Nguyễn Thị Quỳnh A cho anh P trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, chị T không phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

Về án phí: Anh Nguyễn P phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Sau khi xem xét yêu cầu của nguyên đơn, xác định đây là vụ án “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn có địa chỉ cư trú tại thôn P, xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hải Lăng theo quy định tại khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2]. Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ tất cả các văn bản tố tụng cho nguyên đơn và bị đơn. Bị đơn không nộp cho Tòa án văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu của nguyên đơn, không tham gia tố tụng tại các phiên công khai chứng cứ, các phiên hòa giải và phiên tòa. Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến phiên tòa lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Vì vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3]. Về quan hệ hôn nhân: Qua xem xét các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử thấy rằng: Anh P và chị T đăng ký kết hôn trên cơ sở tự nguyện vào ngày 13/3/2000 tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị. Trong quá trình chung sống, hai vợ chồng đã phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do chị T cờ bạc, số đề dẫn đến hai vợ chồng không còn tình cảm và không chung sống với nhau. Tại biên bản xác minh ngày 05 tháng 10 năm 2022, Chủ tịch Hội Liên hiệp phụ nữ xã H cung cấp thông tin: Trong quá trình chung sống, giữa hai vợ chồng chị T và anh P đã xảy ra mâu thuẫn. Hai vợ chồng đã không còn chung sống với nhau khoảng 04 tháng nay. Mặt khác, trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng chị T không có ý kiến đối với yêu cầu của nguyên đơn và chị T cũng không đến Tòa án làm việc, điều đó thể hiện chị T không có mong muốn đoàn tụ gia đình.

Xét thấy, mục đích hôn nhân giữa anh P và chị T không đạt được, đời sống hôn nhân không thể kéo dài. Vì vậy, căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh Nguyễn P.

[4]. Về nuôi con chung: Cháu Nguyễn Duy N đã thành niên, có khả năng lao động và anh P không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Cháu Nguyễn Thị Quỳnh A có nguyện vọng được ở với anh P. Anh P có nguyện vọng, được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Quỳnh A và không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con. Qua xác minh, hiện nay anh P có nhà ở tại thôn P, xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị. Anh P làm nghề lái xe, có thu nhập bình quân hàng tháng khoảng 8.000.000 đồng. Như vậy, anh P có đủ điều kiện để nuôi dưỡng và chăm sóc cháu Quỳnh A. Vì vậy, căn cứ vào Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình, cần chấp nhận yêu cầu của anh P, giao cháu Nguyễn Thị Quỳnh A cho anh P trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, chị T không phải cấp dưỡng nuôi con.

[5]. Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

[6]. Về án phí: Anh Nguyễn P phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn P được ly hôn chị Hoàng Thị T.

2. Về nuôi con chung: Giao cháu Nguyễn Thị Quỳnh A, sinh ngày 11 tháng 4 năm 2008 cho anh Nguyễn P trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Chị Hoàng Thị T không phải cấp dưỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về án phí: Anh Nguyễn P phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng tại biên lai thu số CC/2021/0000150 ngày 30/9/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị. Anh P đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.

Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ./.

Cỡ chữ