vanban.org

Bản án 09/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Nguyễn Quốc B được ly hôn chị Trần Thị L.

2/. Về con chung: Xử giao con chung Nguyễn Anh Q, sinh ngày 06/7/2016 cho anh Nguyễn Quốc B trực tiếp nuôi dưỡng. Chấp nhận việc anh Nguyễn Quốc B không yêu cầu chị Trần Thị L cấp dưỡng cho con chung. Chị Trần Thị L có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung; anh Nguyễn Quốc B và chị Trần Thị L… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Anh B- Chị L"
  • Tòa quyết gì? 1/. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Nguyễn Quốc B được ly hôn chị Trần Thị L.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐÔNG HƯNG
TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 09/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 22/02/2023
V/v: Tranh chấp hôn nhân và
gia đình.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HƯNG, TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Kiên Trung.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Hữu Hiển

2. Bà Nguyễn Thị Vĩnh

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quỳnh Anh- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng.

Ngày 22 tháng 02 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 192/2022/TLST- HNGĐ ngày 22 tháng 11 năm 2022; về “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 06/2022/QĐXXST- HNGĐ ngày 07 tháng 02 năm 2023, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Anh Nguyễn Quốc B, sinh năm 1986; địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình.

2. Bị đơn: Chị Trần Thị L, sinh năm 1992; địa chỉ: Tổ *, ấp T, xã T, thị xã B, tỉnh B.

(Anh B và chị L có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án; nguyên đơn anh Nguyễn Quốc B trình bày:

- Anh và chị Trần Thị L tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại UBND xã T, thị xã B, tỉnh B ngày 15/8/2016. Sau kết hôn vợ chồng sinh sống, làm ăn tại tỉnh B, vợ chồng hòa thuận đến cuối năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm sống và không tìm được tiếng nói chung, vợ chồng hay xảy ra cãi vã, đầu năm 2021 anh đã về xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Bình sinh sống. Vợ chồng đã sống ly thân nhau từ đầu năm 2021 đến nay. Anh xác định tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống hôn nhân không có hạnh phúc, nên đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn chị L.

- Anh và chị Trần Thị L có 01 con chung là Nguyễn Anh Q, sinh ngày 06/7/2016. Hiện tại con chung đang sinh sống cùng anh. Ly hôn, anh xin được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu chị L cấp dưỡng nuôi con,

- Anh và chị L không có tài sản chung và không có nợ chung nên anh không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản.

* Các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án; bị đơn chị Trần Thị L trình bày:

Chị thống nhất về thời gian và quá trình kết hôn, thời gian mâu thuẫn và ly thân, nguyên nhân mâu thuẫn của vợ chồng như anh B khai. Chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không có hạnh phúc nên chị đồng ý ly hôn với anh B. Chị và anh B đã thống nhất lựa chọn Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình giải quyết ly hôn cho chị và anh B.

Chị và anh B có 01 con chung như anh B khai. Ly hôn, chị đồng ý để anh B được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, chị không phải cấp dưỡng cho con chung.

Chị và anh B không có tài sản chung và không có nợ chung nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản.

Chị đã được nhận các văn bản tố tụng của Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình liên quan đến việc giải quyết vụ án tranh chấp hôn nhân và gia đình giữa anh B và chị. Do điều kiện chị ở xa, công việc bận mải nên chị xin được vắng mặt tại các phiên xét xử của Tòa án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên Tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

- Về tố tụng:

. Chị Lệ có đơn lựa chọn Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình (Tòa án nơi anh B cư trú) giải quyết tranh chấp hôn nhân và gia đình giữa chị L và anh B. Vì vậy, Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại Điều 28, 35 và điểm b khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

. Nguyên đơn, anh Nguyễn Quốc B và bị đơn, chị Trần Thị L đều có đơn đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải; vì vậy, Tòa án không tiến hành hòa giải cho anh B và chị L được, đồng thời đưa vụ án ra xét xử.

. Anh Nguyễn Quốc B và chị Trần Thị L có đơn xin được vắng mặt tại phiên tòa. Căn cứ vào khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt anh B và chị L.

- Về nội dung:

. Quan hệ hôn nhân giữa anh Nguyễn Quốc B và chị Trần Thị L được xác lập trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn, là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống anh B và chị L không có hạnh phúc, vợ chồng hay xẩy ra va chạm cãi nhau. Nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, tính cách không hợp nhau; vợ chồng đã sống ly thân từ đầu năm 2021, cả hai không có biện pháp gì để hàn gắn tình cảm vợ chồng và đều không muốn duy trì đời sống hôn nhân. Điều đó chứng tỏ mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh B.

. Về con chung: Con chung đang sinh sống ổn định cùng anh B; từ khi vợ chồng ly thân, anh B vẫn chăm sóc con chu đáo, đảm bảo việc học tập, sinh hoạt của con. Chị L cũng đồng ý để anh B trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Để đảm bảo quyền lợi mọi mặt của con chung, cần giao con Nguyễn Anh Q cho anh B trực tiếp nuôi dưỡng và chấp nhận việc anh B không yêu cầu chị L cấp dưỡng cho con chung.

. Về tài sản: Do các đương sự không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

. Về án phí : Anh B phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

. Về quyền kháng cáo: Anh B và chị L có quyền kháng cáo trong thời hạn luật định.

Vì những lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình. Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147, khoản 1 Điều 228, Điều 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa XIV;

1/. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Nguyễn Quốc B được ly hôn chị Trần Thị L.

2/. Về con chung: Xử giao con chung Nguyễn Anh Q, sinh ngày 06/7/2016 cho anh Nguyễn Quốc B trực tiếp nuôi dưỡng. Chấp nhận việc anh Nguyễn Quốc B không yêu cầu chị Trần Thị L cấp dưỡng cho con chung.

Chị Trần Thị L có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung; anh Nguyễn Quốc B và chị Trần Thị L có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc yêu cầu cấp dưỡng cho con khi cần thiết.

3/. Về tài sản: Không đặt ra giải quyết.

4/. Về án phí: Anh Nguyễn Quốc B phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Chuyển số tiền 300.000 đồng anh B đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003035 ngày 22/11/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đông Hưng thành tiền án phí.

5/. Về quyền kháng cáo: Anh Nguyễn Quốc B và chị Trần Thị L được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

̀

̉

Cỡ chữ