vanban.org

Bản án 09/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Phạm Thị G - Hoàng Văn T"
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 235 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN Đ
TỈNH GIA LAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 09/2023/HNGĐ-ST
Ngày 29 tháng 3 năm 2023
V/v:“Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐA, TỈNH GIA LAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Đoàn Xuân Hòa.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lê Văn Do.

2. Ông Lưu Thông.

- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Văn Thạch - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Gia Lai.

Ngày 29 tháng 3 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án tranh chấp Hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số: 206/2022/TLST-HNGĐ ngày 04/11/2022 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 02 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 06/2023/QĐST-HNGĐ ngày 09 tháng 3 năm 2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Phạm Thị G, sinh năm 1990. Địa chỉ: Thôn T, xã H, huyện, tỉnh Gia Lai. Có mặt.

- Bị đơn: Anh Hoàng Văn T, sinh năm 1990. Địa chỉ: Thôn T, xã H, huyện, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt lần thứ 2.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, trình bày tại các bản khai, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn trình bày như sau:

- Về hôn nhân: Chị là Phạm Thị G, sinh năm 1990 (là nguyên đơn) và anh Hoàng Văn T, sinh năm 1990 (là bị đơn) là vợ chồng, có đăng ký kết hôn ngày 14/10/2009 tại UBND xã K, huyện Đ, tỉnh Gia Lai. Trong thời kỳ hôn nhân vợ chồng sống không hạnh phúc, thường xuyên bất đồng quan điểm, không tìm được tiếng nói chung nên thường xuyên mâu thuẫn, cãi vã, không còn quan tâm, yêu thương nhau và đã ly thân từ năm 2018 đến nay. Do cuộc sống vợ chồng đã mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên nguyên đơn yêu cầu ly hôn với bị đơn để giải thoát cho nhau.

- Về nuôi con và cấp dưỡng nuôi con chung: Trong thời kỳ hôn nhân, nguyên đơn và bị đơn có 02 con chung là: Hoàng Thị Thảo V - sinh ngày 09/12/2007 và Hoàng Tuấn A - sinh ngày 05/8/2011, do hiện nay 2 con đã trên 07 tuổi nên 02 con ở với ai sau khi ly hôn thì do 02 con quyết định, trường hợp 02 con ở với nguyên đơn thì nguyên đơn không yêu cầu bị đơn cấp dưỡng nuôi 02 con chung.

- Về tài sản chung và nợ chung: Nguyên đơn không yêu cầu giải quyết.

* Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa bị đơn vắng mặt, không có cung cấp tài liệu, chứng cứ gì Hội đồng xét xử để xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Xét thấy, anh Hoàng Văn T, sinh năm 1990 (là bị đơn) có địa chỉ tại T, xã HNeng, huyện Đ, tỉnh Gia Lai nên tranh chấp trên được Tòa án nhân dân huyện Đ thụ lý, giải quyết là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa bị đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.

Quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn cung cấp toàn bộ các tài liệu, chứng cho việc giải quyết vụ án, Tòa án không có thu thập tài liệu, chứng cứ nên Tòa án không đưa Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ tham gia phiên tòa sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 21 của Bộ luật tố tụng dân sự.

* Về nội dung:

Quá trình giải quyết vụ án bị đơn đều vắng mặt và không cung cấp tài liệu, chứng cứ gì để Hội đồng xét xử xem xét.

Căn cứ tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ do nguyên đơn cung cấp và trình bày tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận thấy:

Về hôn nhân: Chị Phạm Thị G, sinh năm 1990 (là nguyên đơn) và anh Hoàng Văn T, sinh năm 1990 (là bị đơn) là vợ chồng, có đăng ký kết hôn ngày 14/10/2009 tại UBND xã K, huyện Đ, tỉnh Gia Lai nên hôn nhân giữa nguyên đơn và bị đơn là hôn nhân hợp pháp.

Theo trình bày của nguyên đơn, thì trong thời kỳ hôn hôn nhân thì vợ chồng (chị G và T) sống không hạnh phúc, thường xuyên bất đồng quan điểm, không tìm được tiếng nói chung nên thường xuyên mâu thuẫn, cãi vã, không còn quan tâm, yêu thương nhau và đã ly thân từ năm 2018 đến nay. Do cuộc sống vợ chồng đã mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên nguyên đơn yêu cầu ly hôn với bị đơn để giải thoát cho nhau.

Hội đồng xét xử nhận thấy, quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn cung cấp tài liệu, chứng cứ do Công an xã H, huyện Đ xác nhận như sau: “Hiện nay chị Phạm Thị Gvà anh Hoàng Văn T có đăng ký hộ khẩu và đang sinh sống tại Thôn T, xã H, huyện Đ, tỉnh Gia Lai. Hiện nay chị G và anh T đã có mâu thuẫn trầm trọng nên đã ly thân không sống chung với nhau từ năm 2018 đến nay (chị G ở với cha mẹ đẻ và anh T ở với cha mẹ đẻ cùng thôn T, xã H, huyện Đak Đoa) là đúng sự thật” (bút lục 24). Xét thấy, hiện nay bị đơn đăng ký hộ khẩu và sinh sống Thôn T, xã H, huyện Đ, tỉnh Gia Lai, tuy nhiên Tòa án đã nhiều lần tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật cho bị đơn để làm việc, hòa giải và xét xử nhưng bị đơn đều vắng mặt và không cung cấp tài liệu, chứng cứ gì để Hội đồng xét xem xét, việc bị đơn vắng mặt suốt quá trình giải quyết vụ án cho thấy bị đơn đã bỏ mặc gia đình, không còn quan tâm, chăm lo hạnh phúc gia đình, nên hôn nhân của nguyên đơn và bị đơn đã mâu thuân trầm trọng nên nguyên đơn yêu cầu ly hôn với bị đơn là có cơ sở nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về nuôi con và cấp dưỡng nuôi con chung:

Xét thấy, trong thời kỳ hôn nhân nguyên đơn và bị đơn có 02 con chung là Hoàng Thị Thảo V - sinh ngày 09/12/2007 và Hoàng Tuấn A - sinh ngày 05/8/2011, sau khi ly hôn nguyên đơn yêu cầu được nuôi 02 con và không yêu cầu bị đơn cấp dưỡng 02 con. Nhận thấy, hiện nay con V và cháu A đã trên 07 tuổi nên việc giao 02 con cho cha hoặc mẹ nuôi thì Hội đồng xét xử phải căn cứ theo quy định pháp luật, cụ thể theo quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân gia đình quy định như sau: “Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con”.

Hội đồng xét xử nhận thấy, quá trình giải quyết vụ án 02 con Hoàng Thị Thảo V

- sinh ngày 09/12/2007 và Hoàng Tuấn A - sinh ngày 05/8/2011 có văn bản trình bày ý kiến như sau: “Thời gian qua 02 con thấy ba mẹ thường xuyên mâu thuẫn, cải vã với nhau, nguyên nhân vì sao con không biết, ba mẹ ly thân không sống chung với nhau 05 năm rồi, con không muốn ba mẹ ly hôn nhưng nếu ba mẹ ly hôn thì 02 con có nguyện vọng ở với mẹ vì thương mẹ nhiều hơn” (bút lục 26, 27). Do bị đơn vắng mặt nên nguyên đơn và bị đơn không thỏa thuận được việc nuôi con chung và 02 con nêu trên đã trên 07 tuổi và đều có nguyện vọng ở với nguyên đơn, nên để đảm bảo quyền lợi mọi mặt của con nên Hội đồng xét xử quyết định giao cho nguyên đơn được nuôi 02 con nêu trên cho đến khi 02 con đã thành niên hoặc đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

Ngoài ra, tại khoản 2 Điều 82 Luật hôn nhân gia đình quy định như sau: “Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con”. Do nguyên đơn không yêu cầu bị đơn cấp dưỡng nuôi 02 con chung nêu trên nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung và nợ chung: Nguyên đơn không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

Về án phí:

Nguyên đơn chịu án phí yêu cầu ly hôn theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 91, Điều 92, Điều 93, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 235, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ vào các Điều 51, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về hôn nhân:

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị G. Chị Phạm Thị G được ly hôn với anh Hoàng Văn Toàn.

2. Về nuôi con và cấp dưỡng nuôi con chung:

Giao cho chị Phạm Thị Gái được quyền nuôi 02 con chung là Hoàng Thị Thảo V

- sinh ngày 09/12/2007 và Hoàng Tuấn A - sinh ngày 05/8/2011 cho đến khi 02 con đã thành niên hoặc đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

Anh Hoàng Văn T không có nghĩa vụ cấp dưỡng để chị Phạm Thị G nuôi 02 con chung nêu trên.

Người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

2. Về án phí:

Buộc chị Phạm Thị G phải chịu án phí sơ thẩm về yêu cầu ly hôn là 300.000 đồng, nhưng được khấu trừ số tiền số tiền tạm ứng án phí mà chị Phạm Thị G đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng phí, lệ phí Tòa án số 0009757 ngày 03 tháng 11 năm 2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đak Đoa, tỉnh Gia Lai.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm. Riêng bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ