vanban.org

Bản án 09/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa anh Lư Khâm Ng và chị Võ Kim M.

Về con chung: Anh Ng và chị Mkhông có con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét. Về tài sản chung và nợ chung: Do đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Anh Lư Khâm Ng khởi kiện yêu cầu ly hôn đối với chị Võ Kim M"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa anh Lư Khâm Ng và chị Võ Kim M.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHÂU THÀNH
TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 09/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 01-3-2023
V/v: Tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Tạ Thị Xuân

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Vũ Văn Hợp

2. Bà Trần Ngọc Ánh

Thư ký phiên toà: Bà Phan Thị Quyên – Thư ký Toà án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên toà: Ông Lâm Sển - Kiểm sát viên.

Ngày 01 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 492/2022/TLST-HNGĐ ngày 31 tháng 10 năm 2022, về tranh chấp ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2023/QĐXX-ST ngày 09 tháng 01 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 07/2023/QĐST-DS ngày 09 tháng 02 năm 2023 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Anh Lư Khâm Ng, sinh năm 1993 (Có mặt)

Địa chỉ: Phường B, quận C, thành phố Cần Thơ.

* Bị đơn: Chị Võ Kim M, sinh năm 1994

Địa chỉ: Ấp H, xã A, huyện C, tỉnh Kiên Giang.

(Vắng mặt không lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn anh Lư Khâm Ng trình bày:

Về hôn nhân: Vào năm 2018, anh Lư Khâm Ng và chị Võ Kim M quen biết và tiến tới hôn nhân, có tổ chức đám cưới và đăng ký kết hôn tại UBND phường B, quận C, thành phố Cần Thơ và được cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 15-3-2019.

Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, thời gian sau vợ chồng luôn xảy ra mâu thuẫn, do bất đồng quan điểm trong cuộc sống hàng ngày nên thường xuyên cãi nhau. Mặt khác, chị Mthường xuyên bỏ nhà ra đi, một vài tháng về rồi lại đi tiếp, anh Ng đã cố gắng hàn gắn tình cảm nhưng mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Anh chị đã sống ly thân từ đầu năm 2021 cho đến nay. Hiện nay anh Ng không còn tình cảm với chị Mnữa. Thời gian chung sống anh chị không có con chung, không có tài sản chung và không vay nợ của ai. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn được, mục đích hôn nhân không đạt được nên anh Ng yêu cầu được ly hôn với chị Võ Kim M.

Về con chung: Anh Lư Khâm Ng xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Anh Lư Khâm Ng xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn chị Võ Kim M: Không có ý kiến bằng văn bản theo Thông báo thụ lý vụ án của Tòa án và cũng không có mặt theo giấy triệu tập làm việc, Thông báo phiên họp và Thông báo hoãn phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa của Tòa án.

Tại phiên tòa chị Mvắng mặt.

* Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:

- Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký: Thực hiện đúng quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Thời hạn chuẩn bị xét xử và quyết định đưa vụ án ra xét xử: Đúng quy định tại Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

- Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của nguyên đơn anh Lư Khâm Ng đối với bị đơn chị Võ Kim M.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, sau khi nghị án, Toà án nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Chị Võ Kim M chưa có ý kiến xác nhận theo đơn khởi kiện xin ly hôn của anh, Toà án đã làm đầy đủ thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng chị Mvẫn vắng mặt không lý do. Tại phiên tòa nguyên đơn đồng ý xử vắng mặt bị đơn. Do vậy, căn cứ Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Toà án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

Về quan hệ hôn nhân: Anh Lư Khâm Ng và chị Võ Kim M chung sống với nhau vào năm 2019 trên cơ sở hôn nhân hoàn toàn tự nguyện và được UBND phường B, quận C, thành phố Cần Thơ cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 15-3-2019, đây là hôn nhân hợp pháp.

Xét yêu cầu xin ly hôn của anh Lư Khâm Ng: Vợ chồng anh Lư Khâm Ng và chị Võ Kim M không còn thương yêu, quý trọng, quan tâm, chăm sóc và giúp đỡ nhau nữa, thể hiện qua lời trình bày của anh Ng tại Toà án: Anh Ng và chị Mcó nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm trong cuộc sống hàng ngày nên thường xuyên cãi nhau. Mặt khác, chị Mthường xuyên bỏ nhà ra đi, một vài tháng về rồi lại đi tiếp, anh Ng đã cố gắng hàn gắn tình cảm nhưng mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Anh Ng xác nhận hiện nay anh không còn tình cảm với chị Mnữa, anh chị đã sống ly thân từ đầu năm 2021 cho đến nay mà tình cảm vợ chồng vẫn không hàn gắn được. Toà án xét thấy tình trạng hôn nhân giữa anh Ng và chị Mđã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, yêu cầu của anh Ng xin ly hôn với chị Mlà có căn cứ để chấp nhận.

Về con chung: Anh Ng và chị Mkhông có con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung và nợ chung: Trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã triệu tập chị Mđúng theo quy định pháp luật nhưng chị Mvẫn vắng mặt không lý do. Vì vậy, Toà án không tiến hành hoà giải, đối chất về tài sản chung và nợ chung giữa anh Ng và chị Mđược. Mặt khác, tại Toà án cũng như tại phiên toà anh Ng xác nhận trong thời gian chung sống cùng chị M, anh chị không tạo lập được tài sản gì và cũng không có nợ ai. Cho nên về phần tài sản chung và nợ chung Hội đồng xét xử không xem xét. Nếu sau này các đương sự có yêu cầu thì sẽ được giải quyết bằng vụ án khác theo quy định pháp luật.

Thống nhất ý kiến của Kiểm sát viên về quan điểm giải quyết vụ án như đã phân tích và nhận định trên.

Về án phí: Anh Lư Khâm Ng là nguyên đơn trong vụ án, do đó anh phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm với số tiền là 300.000 đồng theo quy định tại Nghị quyết về án phí, lệ phí Toà án và tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các điều 28, 147, 227, 228 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Áp dụng khoản 1 Điều 56, Điều 57 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của U ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa anh Lư Khâm Ng và chị Võ Kim M.

2. Về con chung: Anh Ng và chị Mkhông có con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Do đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

4. Về án phí: Anh Lư Khâm Ng phải nộp 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm. Anh Ng được khấu trừ tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0009688 ngày 27-9-2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang, anh Ng không phải nộp thêm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014”.

5. Quyền kháng cáo: Anh Lư Khâm Ng có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Chị Võ Kim M vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ