vanban.org

Bản án 09/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Xử cho chị Vi Thị H được ly hôn anh Trương Công C.

Về con cái: Giao cháu Trương Khánh Minh, sinh ngày 24/6/2022 cho chị Hòa trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến tuổi thành niên. Anh Cường không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Anh Trương Công C có quyền đi lại trông nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được cản trở. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vi Thị Hòa - Trương Công Cường"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Xử cho chị Vi Thị H được ly hôn anh Trương Công C.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BÁ THƢỚC
TỈNH THANH HOÁ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 09/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 13-01-2023
V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÁ THƢỚC, TỈNH THANH HOÁ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Văn Hùng

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lương Thanh Hải

2. Ông Hà Văn Bình

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Hải Vân - Thư ký Toà án nhân dân huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hoá.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bá Thước tham gia phiên tòa: Bà Trương Thị Thanh - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 01 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 166/2022/TLST-HNGĐ, ngày 04 tháng 10 năm 2022 về: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 74/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 12 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 49/2022/QĐST- HNGĐ ngày 22 tháng 12 năm 2022 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Vi Thị H, sinh năm: 2000

Trú tại: Thôn Són, xã Lương Nội, huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt. (Có đơn xin xét xử vắng mặt ngày 08/12/2022).

- Bị đơn: Anh Trương Công C, sinh năm: 2000

Trú tại: Thôn Són, xã Lương Nội, huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và quá trình giải quyết vụ án chị Vi Thị H trình bày: Chị và anh C đến với nhau trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn tại UBND xã Lương Nội ngày 14/6/2021. Quá trình chung sống thường phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng không hợp tính nhau nên thường xuyên bất đồng quan điểm và lối sống. Vợ chồng không thể hòa hợp được, thiếu sự đồng cảm và chia sẻ với nhau. Nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, không thể tiếp tục tình trạng hôn nhân như hiện nay nªn đề nghị Tßa ¸n gi¶i quyÕt cho chị được ly h«n anh Cường.

- Về con chung: Vợ chồng chị có 01 con chung tên là Trương Khánh Minh, sinh ngày 24/6/2022. Ly hôn chị Hòa có nguyện vọng được tiếp tục trực tiếp nuôi con và chị không yêu cầu anh Cường cấp dưỡng tiền nuôi con chung.

- VÒ tµi s¶n: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã thông báo thụ lý và triệu tập hợp lệ anh C đến tòa án để làm bản tự khai nhưng anh Cường vắng mặt nên không có lời khai của anh Cường trong hồ sơ vụ án. Chị Hòa đề nghị không tiến hành hoà giải nên Toà án không tiến hành hoà giải. Đây là trường hợp không tiến hành hoà giải được theo quy định tại khoản 4 điều 207 Bộ luật tố tụng dân sự (sau đây viết tắt là BLTTDS). Tòa án cũng đã thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ cho các bên đương sự nhưng anh Cường không có mặt nên Tòa án đã thông báo kết quả kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ cho anh Cường. Anh Cường cũng đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai đến tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, chị Hòa đã có đơn xin xét xử vắng mặt nên căn cứ điều 227, điều 228, điều 238 của BLTTDS Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị H và anh C.

Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa: Tòa án đã tuân thủ đúng quy định về trình tự thủ tục của Bộ luật tố tụng dân sự. Đề nghị HĐXX áp dụng các điều 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, xử cho chị Hòa được ly hôn anh Cường. Về con cái: Giao cháu Trương Khánh Minh, sinh ngày 24/6/2022 cho chị Hòa được trực tiếp nuôi dưỡng cho đến tuổi thành niên, anh Cường không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản: Chị Hòa không yêu cầu giải quyết nên miễn xét. Về án phí: Chị Hòa phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về hôn nhân: Chị Vi Thị H và anh Trương Công C đến với nhau trên cơ sở tự nguyện, ®¨ng ký kÕt h«n tại UBND xã Lương Nội, huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa ngày 14/6/2021và không vi phạm điều 8 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, là hôn nhân hợp pháp và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo khoản 1 điều 28 BLTTDS. Trong cuộc sống hôn nhân, vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân chủ yếu vợ chồng không hợp tính nhau nên thường xuyên bất đồng quan điểm và lối sống. Vợ chồng không thể hòa hợp được, thiếu sự đồng cảm và chia sẻ với nhau. Vợ chồng không thể khắc phục được mâu thuẫn nên tháng 7/2022 chị Hòa mang con về nhà ngoại và không quay về chung sống với anh Cường nữa. Việc này đã được ông Trương Công Diện là bố của anh Cường và chính quyền địa phương xác nhận, phù hợp với nội dung xác minh tình trạng hôn nhân của Tòa án. Hội đồng xét xử xét thấy, m©u thuÉn vî chång ®· ®Õn møc trÇm träng, đời sèng chung kh«ng thÓ kÐo dµi, môc ®Ých h«n nh©n kh«ng ®¹t ® îc. V× vËy, cần c¨n cø ®iÒu 56 LuËt h«n nh©n vµ gia ®×nh xö cho chị Vi Thị Hòa được ly hôn anh Trương Công Cường để giải phóng cho người phụ nữ là cần thiết và phù hợp pháp luật.

Về con cái: Chị H và anh C có 01 con chung là Trương Khánh Minh, sinh ngày 24/6/2022. Hiện chị Hòa đang trực tiếp nuôi cháu, ly hôn chị có nguyện vọng tiếp tục nuôi con và chị không yêu cầu anh Cường cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Xét thấy, cháu Minh đang còn nhỏ chưa được 01 tuổi. Để đảm bảo điều kiện phát triển ổn định bình thường cho con trẻ, tránh sự sáo trộn trong cuộc sống sinh hoạt hàng ngày, nghĩ nên chấp nhận yêu cầu của chị Hòa, giao cháu Trương Khánh Minh cho chị Hòa trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với điều kiện hoàn cảnh thực tế và các quy định của pháp luật. Vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung chị Hòa không yêu cầu nên miễn xét.

Về tài sản: Chị H không yêu cầu giải quyết nên miễn xét.

Về án phí: Chị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 điều 56, điều 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; Khoản 1 điều 28, khoản 4 điều 207, điểm a, b khoản 2 điều 227, điều 228, điều 238 và khoản 4 điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điểm a khoản 1 điều 24, điểm a khoản 5 điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Về hôn nhân: Xử cho chị Vi Thị H được ly hôn anh Trương Công C.

Về con cái: Giao cháu Trương Khánh Minh, sinh ngày 24/6/2022 cho chị Hòa trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến tuổi thành niên. Anh Cường không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.

Anh Trương Công C có quyền đi lại trông nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được cản trở.

Về án phí: Chị Vi Thị H phải chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí chị đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bá Thước theo biên lai số: AA/2021/0008631 ngày 04/10/2022. Chị H đã nộp đủ án phí

Trường hợp bản án được thi hành theo điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Án xử công khai sơ thẩm, vắng mặt chị H và anh C. Chị H, anh C có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án.

Cỡ chữ